|
Nẻo
Bước Vươn Cao
Chín
Bước Thao Luyện Khí Lực Vươn Lên Theo Đường Dũng Lạc là Đuờng
Tu Đức Việt.
Để góp phần xây Đường Dũng Lạc là Đường
Tu Đức Việt, một nhóm linh mục Miền Đông Nam Hoa Kỳ biên
soạn một tập tài liệu gồm 9 bài thao luyện rất đơn giản
và thực tiễn, có thể áp dụng cho đại chúng như kiểu tuần
9 ngày.
Ở Đại
Hội Giới Trẻ Thế Giới tại Denver Hoa Kỳ, Đức Thánh Cha
Gioan Phaolô II kêu gọi người Việt hăy biết hănh diện về
quê hương có 117 vị tử đạo, hăy giữ lấy truyền thống và
bản lănh Công giáo của ḿnh!
Đă bằng ấy năm
sau ngày phong thánh. Những màn tổ chức lớn có tính cách
rầm rộ bên ngoài đă qua đi. .Các thánh th́ cũng đă làm
thánh. C̣n con cháu th́ liệu c̣n ǵ để mà hănh diện theo
đúng nghĩa hănh diện?

Giây Phút Thánh

Để góp phần xây Đường Dũng Lạc, là Đường Tu Đức Việt,
một nhóm linh mục Miền Đông Nam Hoa Kỳ phiên dịch cuốn
Sacrament of the Present Moment
của Jean- Pierre de Caussade, rất gần với Đạo Sống của
người ḿnh, là con đường đơn sơ nhất, cận nhân t́nh nhất
và dễ áp dụng nhất.

.
ĐÀI VOA, TIẾNG NÓI HOA KỲ TRONG
CHƯƠNG TR̀NH TÁC PHẨM VÀ TÁC GIẢ
Giới Thiệu tác phẩm KHÚC SÁO
ÂN T̀NH của Lm. Trần Cao Tường
Cách
đây hơn một năm, khi đề cập tới hành tŕnh văn chương
của nhà văn / linh mục Trần Cao Tường, một trái tim và
một ng̣i bút không ngưng nghỉ kiếm t́m điểm gặp gỡ giữa
truyền thống văn hóa Việt ngh́n năm và nếp sống Việt hôm
nay, ở quê người, nhà thơ Du Tử Lê viết:
“Tôi là
kẻ ngoại giáo. Đề cập tới điều không cần thiết này, tôi
chỉ muốn nhấn mạnh: ḷng biết ơn của tôi, khi t́nh cờ,
đọc được đâu đó, lời khẳng định của ông: kẻ nào không
yêu quê hương, nguồn cội của ḿnh, kẻ đó không yêu Thiên
Chúa.
“Quan
điểm hay cảm nghiệm này, của linh mục Trần Cao Tường,
tôi đă t́m thấy, đă gặp lại bàng bạc hoặc, hiện lộ trong
từng trang sách, từng con chữ mang tên ông.”
Ghi
nhận đó, của nhà thơ du Tử Lê, được viết xuống, hồi
tháng 6 năm 1999, mở đầu cho tác phẩm “Nhịp Múa Sông
Thanh” của họ Trần.
Một năm
sau, nơi tác phẩm thứ chín, tác phẩm mang tên “Khúc Sáo
Ân T́nh” của nhà văn / linh mục Trần Cao Tường, người
đọc gặp lại một Trần Cao Tường âm, trầm, sâu, lắng hơn
nữa.
Trước
khi cất tiếng lên tiếng sáo ân t́nh Việt tộc, tiếng sáo
ân t́nh quê hương, mở đầu cho tác phẩm mới nhất, dầy
trên 400 trang chữ in của ḿnh, họ Trần dùng hai câu thơ:
“Làm
thân cây nến vào đời
Càng
tiêu hao cháy càng ngời ánh quang.”
để mở
đầu cho thời kỳ 1975. Và:
“Thân
con cây trúc tầm thường
Được
thành ống sáo thở hương t́nh người,”
Để nói
lên tâm t́nh cũng như ư nguyện hiến dâng đời ḿnh, cho
dân tộc, và cho lẽ đạo.
Cùng
lúc với sự ra đời của “Khúc Sáo Ân T́nh,” người ta cũng
được nghe họ Trần khẳng định, một làn nữa, nỗ lực đi t́m
sợi giây linh thiêng nốI kết ngày trước và đời sau, qua
cuộc phỏng vấn, ông dành cho một chương tŕnh phát thanh
Việt ngữ.
Xuyên
qua cuộc phỏng vấn này, nhà văn / linh mục Trần Cao
Tường nói:
“Trước
khi là một người Công giáo và rồi là một linh mục, tôi
đă là một người Việt Nam mang 100% chất Việt. Tôi xác
tín vào gia sản văn hóa Việt Nam có thể góp phần với thế
giới đang tiến bộ về mọi mặt ngày nay; đồng thời nền văn
hóa nào nếu không muốn bị đào thải, cũng cần phải được
phát triển, có khả năng thâu hóa được những tinh túy của
thế giới. Người ḿnh có cả một đạo sống cao đẹp, từ
những kho giầu ca dao tục ngữ, những truyện thiêng liêng
nhất của Việt tộc như Bánh Dầy Bánh Chưng, Truyện Trầu
Cau nói lên t́nh nghĩa chỉ có thể phát khởi từ hy sinh
quên ḿnh rất đúng khoa tâm lư về t́nh yêu ngày nay: con
đường nghiền nát trầu cau, nên màu đỏ thắm nên màu sắt
son; Truyện Phù đổng Thiên Vương với sức mọc cánh do
chân không diệu hữu bay về Trời; Truyện Tản Viên Sơn
Thánh, Truyện Chử Đồng Tử, Truyện An Tiêm với niềm tin
căn bản vào Trời của Việt tộc: Trời sinh trời dưỡng...”
Trả lời
câu hỏi về cách viết, tác giả “Khúc Sáo Ân T́nh” tiết lộ:
“Tôi
thường viết theo kiểu bút kư như đă có thói quen từ nhỏ,
và chọn lối viết b́nh dị gần gũi như nói chuyện vậy thôi,
tránh kiểu trường ốc cầu kỳ xa vời. Nghĩa là chụp ghi
những chuyện xảy ra mỗi ngày, liên hệ tới ḿnh như một
người Việt, liên hệ tới gốc gác ḿnh, và kể lại dưới ống
kính nội tâm.”
Dưới
ống kính nội tâm, khi phản chiếu lại, in chúng xuống
trang giấy, bằng chữ viết, họ Trần đă dùng giọng văn dí
dỏm, đôi khi châm biếm, nhưng uyên bác, quyến rũ, khiến
những sự kiện khi được ông ghi nhận, đă như những tấm
gương soi, cho người đọc cơ hội truy tầm chính ḿnh. Thí
dụ mở đầu nhất kư số 49, nhan đề “Cơi Đó,” họ Trần viết:
“Giữa
tháng tám năm 1999, tôi có dịp tham dự và góp phần trong
khóa học về đề tài “Sự Chết và Đời Sống Vĩnh Cửu” do
Viện Triết Thần tổ chức tại California. Đang lúc ai cũng
ham sống, t́m cách sống lâu thêm cho được hưởng đời mà
Viện Triết Thần lại đi bàn chuyện chết, liệu có ǵ hấp
dẫn?! Vậy mà khóa đă thật sống động, nhiều điều mới lạ
và thích thú được mở ra. Cái chết là đề tài cũ rích đáng
sợ nhất không ngờ lại là điều luôn hiện đại. Có người
bảo chỉ khi nào biết chết th́ mới bắt đầu biết sống.
Th́ mỗi
ngày đều đầy những tin tức chết chóc trên báo hay Tivi
đó. Ḱa vụ động đất vừa xảy ra bên Thổ Nhĩ Kỳ chết bộn
người, nhà cửa đổ nát, máu me và nước mắt tràn ngập. Ḱa
trên Chicago trời nóng quá, nhiều nhà nghèo không có máy
lạnh nên đă biếu tử thần mấy trăm mạng rồi...
Xem ra
tôi vẫn đọc tin như vậy một cách thản nhiên, dù đôi khi
cũng vương một chút thương tâm, nhưng thực sự tất cả vẫn
ở ngoài tôi, vẫn ở xa tôi, chẳng liên hệ ǵ cả. Lư do dễ
hiểu là v́ ai chết ấy chứ có phải tôi đâu, hay ít ra
cũng có phải những người thân yêu của tôi đâu! Ḿnh hơi
buồn v́ họ chết mà trong bụng th́ mừng v́ thấy được ḿnh
vẫn c̣n sống!”
Trong
chưa đầy một trang sách, người đọc b́nh thường nhất, đơn
giản nhất cũng tối thiểu một lần giật ḿnh, khi tấm
gương nhật kư Trần Cao Tường, phản chiếu chân dung ta,
diện mạo ta, một cách trần trụi, gớm ghiếc:
“Ḿnh
hơi buồn v́ họ chết, mà, trong bụng th́ mừng v́ thấy
được ḿnh vẫn c̣n sống!”
Nếu
nhậy cảm hơn một chút, cũng trong đoản văn đó, người đọc
cũng sẽ không khỏi giật ḿnh, khi tấm gương văn chương
Trần Cao Tường, nhắc nhở chúng ta, điều rất b́nh thường,
ta đă nghe đâu có, và cũng đă vứt bỏ đâu có, trong kho
chứa điều lăng quên: “Có người bảo chỉ khi nào biết chết
th́ mới bắt đầu biết sống.”
Không
triết lư cao siêu, thần bí, không gân guốc chữ nghĩa,
không hăm dọa h́nh ảnh, hoặc ẩn dụ, những trang sách của
một Trần Cao Tường nhà văn, đến với chúng ta, với người
đọc, như những lời kể chuyện, những đoạn bút kư rất đời
thường, rất mặt đất, vậy mà, nó vẫn rung lên trong tâm
hồn ta những rung động ở mức độ cao. Độ rung của của
những cơn địa chấn.
Sau khi
đọc “Khúc Sáo Ân T́nh” của Trần Cao Tường, một nhà văn
tên tuổi ở miền California, phát biểu:
“Tôi e
rằng, cho tới lúc chấm dứt đời ḿnh, tôi cũng không được
là một lóng của thân trúc tầm thường, khoan nói tới việc
trở thành... 'cây sáo thở hương t́nh người,' như linh
mục, tác giả.”
Sau đây,
chúng tôi trân trọng kính mời quí độc giả theo dơi một
trích đoạn, từ tác phẩm “Khúc Sáo Ân T́nh” của nhà văn /
linh mục Trần Cao Tường, như một dạo khúc sáo trúc của
ông, vọng về quê hương:
“Chưa
bao giờ tôi thấy vườn sau nhà tươi tắn rạng rỡ, trẻ đẹp
mơn mởn như hôm nay. Có ǵ đâu, vẫn những cây tầm thường
mọi khi, mà sao bây giờ bỗng dưng quí lạ quá, chung
quanh như toát ra một lực ánh sáng diễm ảo mà con mắt
trước đây không thấy. Cây nào cây nấy xúng xính và e lệ
với những bộ áo mới, vừa nhún nhẩy vừa hát vang bài ca
vũ trụ và trổi lên khúc sáo tiềm ẩn của đất trời mà lâu
nay chẳng để ư nghe. Nhà nghệ sĩ nào tài t́nh quá đă sửa
soạn từ lâu đến suốt đêm vừa qua cho cuộc tŕnh diễn và
triển lăm ngoạn mục này khi nắng mai vừa thức giấc nhoẻn
miệng cười.
Tôi yêu
cây và thích trồng cây trong vườn. Mà vườn sau nhà tôi
th́ chẳng giống ai. Cây không bị bắt xếp hàng thẳng băng
một cách tội nghiệp như nhiều công viên Âu Mỹ, nhưng
được đứng ngồi thoải mái tùy tiện ăn trông nồi ngồi
hướng. Có thế th́ cây mới là cây. Tôi cũng không thích
trồng bồn cỏ rồi phải cắt tỉa mày râu nhẵn nhụi cho tốn
sức “cần lao nhân vị.” Loại cây có dáng thi nhân nhất là
trúc vàng lóng dài với những đường chỉ dọc màu xanh.
Loại này mà làm sáo thổi th́ tuyệt. Nó có vẻ khiêm
nhường một cách kênh kiệu. Nó rỗng trống chẳng có ǵ mà
lại đẹp kiêu sa mới kỳ. Ngoài những cây mai chiếu thủy,
cây ngọc lan, cây quỳnh, cây dao, mấy vồng trầu không
v.v. th́ toàn những loại cây có thể ăn gỏi cá được. Nào
là cây sung, cây riềng, cây xoài, cây ổi, cây chanh, cây
ớt, tía tô, lá mơ, lá húng, lá diếp cá... Ở Mỹ mà cũng
trồng được sung mới trác tuyệt chứ. Khi nghèo lá sung
th́ ngắt đỡ đọt xoài non ăn với gỏi cá cũng bắt lắm, coi
cái món sushi của Nhật nhạt thếch chẳng ra cái thá ǵ.
Lá chanh th́ chuyên trị gà luộc, mà gà phải mua từ nông
trại ưa chạy bộ ăn mới ấm chân răng. C̣n củ riềng th́
c̣n phải chờ khóc đứng khóc ngồi cái đă....”
Nhà báo Nguyễn Trọng
TÔI ĐỌC “KHÚC SÁO ÂN T̀NH” của linh mục nhà văn Trần Cao
Tường
“Khúc Sáo Ân T́nh” là
tác phẩm thứ bảy của linh mục nhà văn Trần Cao Tường,
đang phục vụ ở New Orleans, nơi có khoảng 10 ngàn người
Việt di cư Công giáo. Linh mục cũng là tác giả cuốn
Đường Nở Hoa Lê Thị Thành, xuất bản vào năm 1996, mô tả
khá tỉ mỉ cuộc đời của thánh nữ.
Theo
lời tác giả th́ “Khúc Sáo Ân T́nh” là một vũ khúc triển
dương tạ ơn, như mốc ghi được kết bằng 25 ḥn đá rải rác
trên quăng đường dài 1975-2000, mốc ghi người Việt ly
hương mở ra biên cương mới của đất Việt trong tầm nh́n
mới.”
Tại sao
tác giả không gọi cuốn sách ghi lại quăng đường dài 25
năm di cư bằng cái tên như “25 Năm Ân T́nh” Hay “25 Năm
Xa Xứ” mà lại chọn một cái tên rất kỳ lạ và rất thơ mộng
là “Khúc Sáo Ân T́nh?”
Chọn
như vậy ắt hẳn phải có một lư do chính đáng và thầm kín,
nó thầm kín như chính con người của tác giả vậy.
Theo
lời tiết lộ của tác giả th́ ông đă đi học thổI sáo Tây
cả hai năm, và mới đây ông chuyển qua học thổi sáo trúc.
Theo ông, sáo trúc b́nh dị từ “cây trúc tầm thường”
nhưng lại rất rung cảm.
Chính
v́ thổi sáo trúc mà tác giả đă đi sâu vào con đường
chiêm niệm - contemplation - và con đường thiền - mystic
.
Chúng
ta hăy nghe ông mô tả nghệ thuật - hay nói đúng hơn là
bí quyết huyền nhiệm - của người thổi sáo ân t́nh:
“Trước hết người thổi sáo phải ḥa nhập trở thành chính
ống sáo với ḷng trống và thanh tịnh cho hơi thở của
Trời chuyển vào. Phải biết xả cho tâm ḿnh trống không,
tụ khí xuống thật sâu tận đáy ḷng, nơi tụ điểm ḥa nhập
với hơi thở của đất trời, rồi chuyển hơi vào lỗ sáo như
một lời cầu nguyện.”
“Xuống
được đáy ḷng, tác giả viết tiếp, vào sâu trong nội tâm,
chính là gặp được giao điểm của trời đất, người Tàu gọi
là đan điền (ruộng son), người Nhật gọi là khí hải (biển
khí).”
Mô tả
bí quyết thổi sáo như trên, tác giả đi tới kết luận:
“Th́ ra người thổi sáo cũng phải trở thành chính ống sáo.
Những đục khóet trong đời không phải là những phi lí
lăng xẹt, mà là do Thần Khí Chúa “lùa dao khoét lỗ luyện
kinh, tác thành ống sáo cho t́nh dâng cao.”
Nhận
thức được nghệ thuật và tác động thiêng liêng huyền
nhiệm của tiếng sáo như vậy nên tác giả mới đặt tên cho
sách của ḿnh là “Khúc Sáo Ân T́nh.”
Linh
mục Trần Cao Tường không chỉ là một nhà văn, ông cũng
không phải chỉ là một linh mục. Ông c̣n là một nhà chiêm
niệm, một “thiền gia” - mystic - theo theo nghĩa thời
Trung Cổ của danh từ này.
Những
thiền gia đều cảm nhận sự hiện diện của Chúa trong thế
giới thiên nhiên và trong tất cả các sinh vật, đưa tới
sự biến dạng - trandfiguration - của những vật tầm
thường chung quanh ḿnh.
Chínnh
cái nh́n biến dạng này đă khiến cho nhà văn gọi đoạn
viết về thổi sáo là “Thiền Thổi Sáo.” Cây sáo trúc tầm
thường của người Việt đă trở thành chiếc ống chuyên chở
Thần Khí của Chúa Thánh Linh vào tận đáy ḷng.
Viết về
tôn giáo là một điều không dễ dàng và dễ hiểu. Lại viết
về chiêm niệm và thiền Công giáo th́ quả là một đề tài
vô cùng khó khăn, khó hiểu và khó truyền cảm. Nhưng tác
giả “Khúc Sáo Ân T́nh” coi như đă thành công v́ ông đă
diễn tả những ǵ rất trừu tượng, rất “huyền bí,” rất xa
xôi và sâu thẳm bằng những h́nh ảnh và lời văn thông
thường của đời sống hằng ngày, những h́nh ảnh và lời văn
mà mọi người dân quê Việt Nam đă quen thuộc từ lâu, v́
nó đă ăn sâu vào ḷng như những câu ca dao tục ngữ của
cha ông truyền lại cho con cháu từ ngàn xưa thăm thẳm.
Tác giả
không viết về những cuộc đời chiêm niệm và thiền qua
nghiên cứu sách vở. Ông sống thật cuộc đời đó trước khi
mô tả nó. Ông đă gặp được Thần Khí trước khi đưa Thần
Khí vào văn chương. Có nghĩa ông là người biết thổi sáo
- và thổi sáo hay - trước khi diễn tả tiếng sáo ngọt
ngào, trầm bổng và quyến dũ cho người khác cùng thưởng
thức, đưa họ vào một thế giới không phải của Tiên Nga,
Ngọc Nữ như trong thơ của Thế Lữ, mà đưa họ vào thế giới
T́nh Yêu muôn thuở, đẹp như những rừng hoa không bao giờ
tàn, và lung linh thơ mộng như vầng trăng không bao giờ
lặn...
Con
người không mô tả được cảnh đẹp của Thiên Đường có thực
mà chỉ mô tả được cảnh đẹp của Thiên Thai trong tưởng
tượng. Linh mục Trần Cao Tường cũng chỉ mới cảm nhận
được vẻ đẹp Thiên Đường này. Ông chưa thực sự sống tràn
ngập trong đó.
VÀO SA
MẠC
Người ta thường nói: đạo Công giáo phát xuất từ sa mạc -
sa mạc Sinai - nên trong ḷng mỗi người Công giáo đều có
một niềm nhớ nhung sa mạc và một tiếng gọi xa xăm trở về
sống trong sa mạc. Nếu h́nh ảnh con trâu và lũy tre dẫn
đưa người Việt tha hương về với quê hương đất nước nơi
trần thế, th́ h́nh ảnh sa mạc và ngọn núi Sinai dẫn đưa
con người Công giáo về với nguồn gốc tôn giáo của ḿnh.
Có lẽ
chính v́ vậy mà linh mục Trần Cao Tường, một nhà chiêm
niệm và một “thiền gia” đă nhiều lần vào sống trong sa
mạc.
Ngay
trong phần mở đầu cuốn “Khúc Sáo Ân T́nh,” tác giả cho
biết ông đă có dịp vào sa mạc trống trong một thời gian
dài ba mươi ngày để tĩnh tâm. Theo tác giả th́ “đây là
cơ hội cho ḿnh nh́n lại cuộc sống, có bổng mà cũng có
trầm, có đủ màu sắc hỉ nộ ái ố xanh vàng tím đỏ, có
những lúc tâm hồn mọc cánh thênh thang, mà lại cũng trải
qua những gai đoạn bị đục khoét lia chia mà chẳng hiểu
tại sao...”
Chính
sự đục khoét tâm hồn cho rỗng trống, chính những mâu
thuẫn nội tâm trầm bổng đă kết lại thành một ḥa khúc
dịu êm, như ḥa khúc mà Đức Mẹ đă nghe được thiên thần
báo tin sẽ sinh con Thiên chúa. Ḥa khúc này, tác giả
đặt tên nó al Vũ Khúc Tuyên Dương:
Chúa đă
làm cho tôi muôn việc kỳ diệu
Người
nâng cao những ai phận nhỏ.
Tác giả
vào sa mạc để thấy con người của ḿnh phận nhỏ li ti khi
đứng trước cái mênh mông của đất trời. Và trong lúc tác
giả cảm nghiệm được thân phận thấp hèn mong manh của
ḿnh như vậy là chính lúc Thần Khí Chúa mang một cây sáo
trúc tặng cho ông để ông tấu lên thành “Khúc Sáo Ân T́nh”
ngay giữa ḷng sa mạc.
Như vậy,
độc giả người Việt đọc “Khúc Sáo Ân T́nh” có thể kết
luận được rằng nếu tác giả là người không biết thổi sáo
trúc của người dân quê Việt Nam, và nếu tác giả không
sống lâu ngày trong sa mạc bao la để thấy thân phận con
người nhỏ bé li ti như hạt cát, và để nh́n lên trời cao
chỉ thấy có trăng sao và những đám mây vần vũ, th́ có lẽ
ông không sáng tác được ḥa khúc “Khúc Sáo Ân T́nh.”
“Khúc
Sáo Ân T́nh” không phải chỉ là một tiếng sáo vẳng lên
trời cao rồi lịm tắt. Cuốn sách in đẹp, tŕnh bày mỹ
thuật và đơn giản, dày trên 400 trang, gồm có 57 tiếng
sáo nhỏ kết lại thành một bản Trường Ca Ân T́nh làm say
mê độc giả suốt mấy tiếng đồng hồ, nhất là vào những giờ
thanh vắng đêm khuya khi ngoài trời có gió thổi và trên
trời có một vài v́ sao lấp lánh cô đơn, lạnh lẽo.
Lối
viết và lối suy tư của tác giả làm cho người ta nhớ lại
cuốn “Bread for the Journey" của linh mục nhà văn nổi
tiếng thế giới Henri J.M. Nouwen, chuyên viết về tu đức.
Cuốn sách này được chia thành 365 bài cho một năm, mỗi
bài tự nó làmột đề tài suy niệm, rất súc tích và sâu sắc
nhưng lại dễ hiểu và trong sáng như lối viết của Tân Ước.
Cuốn
“Khúc Sáo Ân T́nh” của linh mục nhà văn Trần Cao Tường
với lối diễn tả nh́n thẳng vào vấn đề và diễn tả vấn đề
đó bằng một lối hành văn gẫy gọn, mạch lạc, dễ hiểu,
dùng nhiều h́nh ảnh, giai thoại và ẩn dụ rút ra từ Thánh
Kinh, từ sách báo, từ đời sống của các nhà đạo đức, và
rút ra từ chính cuộc đời của tác giả.
Đây là
một loại sách hiếm về chiêm niệm và Thiền Công giáo rất
cần thiết trong đời sống ồn ào, phức tạp, đầy hoài nghi
và lo sợ viển vông của nhiều người chúng ta đang sống
trong một thế giới quá đầy đủ về tiện nghi vật chất,
nhưng thiếu vắng những suy tư về tâm linh.
Nói tóm
lại, cũng như linh mục tác giả Trần Cao Tường, mỗi người
chúng ta phải trở về sa mạc để t́m lại nguồn gốc tôn
giáo của ḿnh và cho ḷng ḿnh cảm nghiệm thấy trống
rỗng, cô đơn để đón nhận Thần Khí Chúa từ trời cao đầy
hồn trí, như một cơn mưa rào.
Nguyễn
Trọng
Đài V.O.A., Tiếng Nói Hoa
Kỳ và Đài VOBVN ở Houston, Texas, trong chương tŕnh Văn
Học Nghệ Thuật,
Giới Thiệu tác phẩm NHỊP
MÚA SÔNG THANH của Lm. Trần Cao Tường
Nếu
không kể 6 tác phẩm về “Giáo Dục Tôn Giáo,” ấn hành từ
năm 1983, th́, “Nhịp Múa Sông Thanh,” tức “Tin Vui Thời
Điểm 2000,” là tác phẩm thứ sáu của Linh mục, Nhà văn
Trần Cao Tường. Tác phẩm mới nhất này của họ Trần, do
nhà Thời Điểm xuất bản và phát hành.
Ghi
nhận về thế giới văn chương Trần Cao Tường, nhà văn Phạm
Xuân Đài, Chủ biên Tạp chí Thế Kỷ 21 viết:
“Mỗi
bài viết (của tác giả) thường bắt đầu bằng một câu
chuyện vui vui, để từ đó quy chiếu cho nó một ư nghĩa
triết lư và một điểm tương ứng trong niềm tin Thiên Chúa
Giáo. Những chuyện kể ấy, tác giả rút ra từ cuộc sống,
từ sách vở cổ kim đông tây, trong đó nhiều chuyện, nhiều
nhận xét bắt nguồn từ phong hóa, văn học Việt Nam.
Đi sâu
hơn vào con người của tác giả “Nhịp Múa Sông Thanh,” tức
“Tin Vui Thời Điểm 2000,” nhà văn Quyên Di cũng ghi nhận:
“Là một
Linh mục, tác giả Trần Cao Tường lấy Thánh Kinh làm
nguồn cảm hứng về cuộc đời, một cuộc đời mà bên cạnh
những biến cố lớn lao là muôn vàn chuyện tầm thường của
kiếp nhân sinh. Tin Vui với cái nh́n của tác giả, soi
rọi vào từng ngóc ngách, từng chuyển động của cuộc sống
ấy.
“Nhưng
cũng là một nghệ sĩ, ở cả hai khía cạnh sáng tác và
thưởng ngoạn, tác giả say sưa với vẻ đẹp của cuộc sống,
say mê nhiều thể loại nghệ thuật, từ văn đến thơ; từ
kiến trúc, hội họa đến nhiếp ảnh... Người ta sẽ nh́n ra
cái nét tài hoa của ông qua những đoạn viết về cảnh vật,
cái nét suy tư của triết gia khi ông tŕnh bày nhân sinh
quan của ḿnh.
“Nét
nổi bật nhất nơi tác giả là “Con Người Việt Nam.” Ông
say sưa minh chứng người Việt có một đạo sống rất giản
đơn, nhưng rất hợp thời, đáp ứng được những thiếu thốn,
những khao khát của con người thời đại.”
Cũng
như những tác phẩm trước đây, đă được xuất bản, như các
cuốn “Vũ Khúc Thăng Ca,” “Đường Nở Hoa Lê Thị Thành,”...,
“Nhịp Múa Sông Thanh” của Trần Cao Tường cũng gồm những
bài viết mang đầy tính chiêm nghiệm, thương yêu những
hoạt cảnh đời thường. Đó là những cái nh́n rất tinh tế,
rất-Trần-Cao-Tường; mà, một nhà thơ phát biểu rằng: Đó
là tác phẩm gối đầu giường của ông. Ông đă nhâm nhi từng
con chữ của Trần Cao Tường, như nhâm nhi niềm hạnh phúc
gần cận, và, thân thiết.
(“Nhịp
Múa Sông Thanh” với Tựa của Nhà thơ Du Tử Lê, dầy trên
350 trang. Nhà xuất bản Thời Điểm)
Nhà thơ Du Tử Lê
đề tựa tác phẩm NHỊP MÚA
SÔNG THANH của linh mục Trần Cao Tường
Tôi là
kẻ ngoại giáo. Đề cập tới điều không cần thiết này, tôi
chỉ muốn nhấn mạnh: ḷng say mê, thích thú của tôi, khi
được đọc những tác phẩm, đúng hơn, những bài viết ngắn
của Linh Mục Trần Cao Tường trên báo hoặc; trong những
tác phẩm như “Đường Nở Hoa Lê Thị Thành,” hay “Vũ Khúc
Thăng Ca” của ông.
Tôi là
kẻ ngoại giáo. Đề cập tới điều không cần thiết này, tôi
chỉ muốn nhấn mạnh: ḷng biết ơn của tôi, khi t́nh cờ,
đọc được đâu đó, lời khẳng định của ông: kẻ nào không
yêu quê hương, nguồn cội của ḿnh, kẻ đó, cũng sẽ không
yêu Thiên Chúa.
Quan
điểm hay, cảm nghiệm này, của Linh mục Trần Cao Tường,
đă thốn thấu tâm can tôi.
Quan
điểm hay cảm nghiệm này, của Linh mục Trần Cao Tường,
tôi đă t́m thấy, đă gặp lại bàng bạc hoặc, hiển lộ trong
từng trang sách, từng con chữ mang tên ông.
Quan
điểm hay cảm nghiệm này, của Linh mục Trần Cao Tường,
một lần nữa, qua tác phẩm “Nhịp Múa Sông Thanh” lại dấy
động trong tôi những cơn địa chấn gốc, nguồn, có lại.
Những
cơn địa chấn hưng phấn liu điu, bởi vốn chữ Việt Nam
giầu có của tác giả.
Những
thốn, thúc nhân bản. Những cơn hưng phấn treo, móc niềm
tin trên những vấn đề tác giả đặt ra cho chúng ta (và,
chính ông;) trên phông, cảnh đời thường.
Đó là
những vấn đề cực kỳ thiết thân.
Vấn đề
của chúng ta: những con người bị dồn, đưa tới mé vực cầm
thú.
Quan
điểm hay cảm nghiệm này, của Linh mục Trần Cao Tường,
một lần nữa, qua “Nhịp Múa Sông Thanh,” không chỉ dội
đập trong tôi: hơi nóng của những con chữ đă chết, được
ông làm cho sống lại, trên mảnh đất kiến thức tác giả
ngồn ngộn, mầu mỡ; (mà,) nó c̣n là nỗi choáng váng, ngất
ngây tới xây xẩm của nguồn ánh sáng tinh khôi, đi ra từ
tâm thức họ Trần, trên bậc thềm tân thiên niên kỷ.
Tôi
muốn nói: những địa chấn, những dội đập kia, là những
ngọn lửa soi, rọi từng tấc đường Hành tŕnh Văn chương
Trần Cao Tường, bên cạnh hành tŕnh vinh quang được chọn
là Tôi-Tớ-Chúa.
Tôi
muốn gọi: Hành tŕnh Văn chương mang tên Trần Cao Tường
kia, là “Con Đường Trần Cao Tường.”
Con
đường mang thương yêu, đến mọi người.
Con
đường mang tổ quốc về từng ḍng máu Việt Nam quê người,
nhạt muối.
Con
đường mang niềm tin, như những đọt non, có lại trên
những nhánh cành Việt Nam tha phương đứt, ĺa, ải, ṛn,
héo, khô nhựa sống.
Con
đường đó, “Con Đường Trần Cao Tường,” trên tất cả, với
riêng tôi, chính là chiếc cầu nối tôi, kẻ ngoại giáo, về
với niềm tin Thien Chúa.
Nếu
phải (hay được phép) viết một câu ngắn ngủi nhất, ở đây,
trên trang giấy này, tôi sẽ viết:
“Thưa
Cha, thay v́ ngỏ lời cảm ơn những trang sách hôm qua,
hôm nay, ngày mai... của Cha; th́, tôi chỉ xin Cha luôn
nhớ rằng:
'Chúng
tôi hănh diện và, sung sướng biết bao, khi có Cha: Một
Người Việt Nam', như (và, giữa) chúng tôi, nơi đất khách.”
Nhà Thơ TRẦN THU MIÊN, tập
san Sứ Điệp,
giới thiệu Nhịp Múa Sông
Thanh
Tôi mới
biết Trần Cao Tường một thời gian rất gần. Sự liên hệ
này c̣n giới hạn. Thỉnh thoảng gặp nhau vài phút qua
những cuộc điện đàm viễn liên, hay dăm ba ḍng điện thư
ngắn ngủi. Chỉ thế thôi! Nhưng tôi có cảm tưởng rằng đă
quen nhau lâu lắm rồi.
Cách
đây không lâu, tôi gửi biếu Trần Cao Tường một tác phẩm
văn nghệ cũng như tôi đă gửi tặng bạn bè và nhiều người
quen, lạ. Gửi cho ông v́ một người bạn bảo đó là việc
nên làm, chứ thú thật, tôi chưa bao giờ nghĩ là sẽ có
dịp liên hệ với linh mục nhà văn này dù đă nghe một đôi
điều về ông. Tôi không tưởng rằng Trần Cao Tường sẽ trả
lời ḿnh. Và thật ra th́ cũng quên bẵng là ḿnh đă gửi
ǵ cho ông. Rồi thật bất ngờ, vị linh mục chưa quen này
gửi tôi điện thư ngắn gọn với lời khuyến khích rất rộng
t́nh. Tôi trả lời ngay rằng, “Thưa cha con sẵn sàng biến
thành trẻ nhỏ để nhận lời khen từ người khác.” Tấm ḷng
nhân ái ấy có sức kéo chúng tôi lại gần nhau. Chính v́
thế mà tôi muốn biết thêm về ông. May mắn quá, gần đây
cha c̣n ưu ái tặng tôi tác phẩm “Nhịp Múa Sông Thanh.”
Đang lúc cùng “nhà tôi” sơn nhà, tôi đă ngưng ngay công
việc để đọc tác phẩm này. Đọc với ḷng quí mến và t́nh
ưu ái văn nghệ. V́ thế, tôi không viết về tác phẩm của
ông bằng cái nh́n và sự phân tích của người làm việc
“điểm sách,” hay phê b́nh văn học. Nhưng tôi viết về
“Nhịp Múa Sông Thanh” (NMST) như một cố gắng để t́m vài
nét về chân tướng của linh mục nhà văn hiếm có này.
Người
Phân Tích Xă Hội.
Thường
th́ chúng ta dễ để ư đến những điều xẩy ra cho bản thân
ḿnh hơn là những điều xẩy ra cho người khác. Trần Cao
không chỉ nh́n chung quanh, nhưng ông nh́n bằng con mắt
và trí tuệ của người phân tích xă hội. Những sự kiện,
biến cố xẩy ra chung quanh đều có lư do và hậu quả. Thí
dụ như việc mấy gă choai choai rửng mỡ phá làng xóm bằng
cách nhổ cọc bảng hiệu giao thông là một việc làm phạm
pháp (NMST, tr. 347-349). Ai mà không nghĩ thế, và chúng
ta thường th́ cũng chỉ nghĩ đến đó là cùng. Trần Cao
Tường nh́n xa hơn, sâu hơn. Ông nhận ra được những dấu
chỉ thời đại qua những sự việc, biến cố đang xẩy ra mỗi
ngày.
Người
Hiếu Học Khiêm Nhường
Sự học
đ̣i hỏi thái độ khiêm nhường. Chỉ khi ta khiêm nhường ta
mới nhận ra được những điều tốt của người khác và muốn
học họ để phát triển tầm hiểu biết của ta. Trần Cao
Tường không ngại “mượn” những kiến thức, kinh nghiệm, và
sáng tác của người khác để giúp ông hiểu thêm về cuộc
đời, về xă hội, tôn giáo, và nguôản gốc của ḿnh. Ông đă
trang trọng trích dẫn, những mẩu chuyện, câu thơ, đoạn
văn, lời nhạc của người khác như những dẫn chứng để làm
sáng tỏ cảm nghiệm và sự quan sát của ḿnh. Trong tác
phẩm ông ta thấy nhan nhản tên của những tác giả từ Việt
Nam đến những dân tộc khác. Ông không dùng tên các tác
giả nổi tiếng như một sự lừa bịp trí thức để tỏ ra sự
hiểu biết và kiến thức rộng của ḿnh. Nhưng ông dùng họ
như những nguời chỉ đường để ông t́m ra được điều ḿnh
muốn hiểu.
Người
Nặng Hồn Thi Sĩ
Thi
tính của Trần Cao Tường bộc lộ qua từ đề tựa tác phẩm,
“Nhịp Múa Sông Thanh,” đến tựa của những h́nh chụp phụ
bản như, “Ḍng Sông Ánh Sáng.” Tôi đọc qua những tựa đề
trong trang mục lục mà tưởng ḿnh đang đọc một bài thơ
lạ. Chữ nghĩa của ông chuyên chở đầy thi tính như, “Một
hôm tôi chợt thấy con ve sầu đong đưa....” (NMST, tr.
82). Chỗ khác ông viết, “Bài hát văng vẳng đâu đây lời
thơ mộng,” (NMST, tr. 289). Chưa kể những tựa đề đầy thơ
như, “Tia nắng ban ban ngập tràn mí mắt, “ (NMST, 197).
Tôi cũng rất ngạc nhiên khi nh́n những tấm h́nh ông chụp,
được dùng làm phụ bản cho tác phẩm chính. Mỗi tấm h́nh
đều gói ghém cảm nhận rất nghệ sĩ của ông. Mỗi tấm h́nh
đều mang mang những lời thơ bí ẩn. Đó là nhà thơ Trần
Cao Tường, thơ ông ẩn hiện trong những hàng chữ văn xuôi,
trên cảnh vật chụp vội trong h́nh, và trong tâm thức đầy
Việt tính.
Đạo Sư
Nhập Thế
Là
người phân tích xă hội, kẻ hiếu học, hay nghệ sĩ cũng
như làm đạo sư mang chân lư vào đời, Trần Cao Tường luôn
luôn lao xả vào cuộc sống. Ông không tự khép kín ḿnh
trong thế giới của “hàng tư tế” hay khoác áo “tu hành”
đứng bên trên hay bên ngoài đời sống. Ông sống đời đạo
sư mang chân lư vào giữa đời thường. Chúa của ông, bậc
“Thầy” tối cao của ông cũng đă mang chân lư vào đời
thường bằng lời giảng dậy rất b́nh dân. Người dùng ngụ
ngôn đời thường để giảng tin mừng cứu độ cho đời là Đức
GiêSu. Là một linh mục Công Giáo, ông thấm nhuần Kinh
Thánh và chuyện đời Chúa GiêSu nên ông cũng dùng những
câu chuyện đời thường để mang sứ điệp tin mừng cho thời
đại của ông. Ông đọc tiểu thuyết, nghe nhạc t́nh, xem
phim, đi du ngoạn và dùng những h́nh ảnh “hột vịt lộn,”
“bi thuốc lào,” “lá trầu,” “người đánh giầy,” “kẻ trồng
rau,” và nhiều mẩu chuyện, hay sự cố thường ngày để minh
giải Kinh Thánh của Đạo Chúa. Đọc sách ông, ta không chỉ
nghe ông kể những câu chuyện vớ vẩn đâu đâu, nhưng từ
những câu chuyện này, ông đưa người đọc bước vào thế
giới tôn giáo của ông một cách rất tự nhiên. Đây là điều
đặc biệt trong “Nhịp Múa Sông Thanh.” Trần Cao Tường
không khoác áo đạo sư để doạ nạn tín đồ, nhưng ông dùng
những sự việc, biến cố thật để giúp tín đồ “giác ngộ,”
để dẫn tín đồ vào con đường cứu độ.
Người
Gây Hoang Mang
Trần
Cao Tường đă gây hoang mang cho nhiều người Việt Nam
không cùng một trường phái suy luận như ông. Gần đây
trên tờ Thế Kỷ 21 (tháng 10, 1999), đă có người tỏ ra
khó chịu về việc Trần Cao Tường mang đức tin Công Giáo
của ông vào những lời giải thích về những tư tưởng văn
hoá và đạo lư dân tộc. Thí dụ như ông khẳng định, “Đúng
là Đạo Trời đă bén rễ sâu vào tâm thức Việt Nam như một
tín ngưỡng chung, thành tụ điểm tinh thần,” (NMST, tr.
17). Người ta bảo là ông ngụ ư nói về Đạo Trời là Đạo
Chúa của ông. Người ta bảo ông dùng văn chương ḿnh với
ư đồ thuyết phục người khác tin theo “đạo” của ông. Thật
ra th́ văn hoá, đạo lư, hay những nghi lễ dân tộc chẳng
thuộc về riêng ai. Chúng ta áp dụng những kho tàng vô
giá ấy vào những hoàn cảnh riêng cho bản thân, gia đ́nh,
hay tôn giáo ḿnh là điều nên làm, phải làm. Trần Cao
Tường, linh mục Công Giáo, có ngụ ư là Đạo Trời trong
văn hoá Việt Nam là Đạo Chúa của ông th́ cũng chỉ là
việc làm phải đạo, hợp lư. Đó không phải là việc làm
phản văn hoá, nhưng lại làm giầu thêm cho văn hoá.
Người
Lưu Vong C̣n Gốc Rễ
Trong
Nhịp Múa Sông Thanh và bàng bạc trên những bài viết hay
sách của ông, Trần Cao Tường luôn luôn ư thức được ḿnh
là nguời Việt Nam, đến từ một nơi có văn hoá, có đạo
giáo. Ông nói về những chuyện huyền thoại “Rồng Tiên,”
hay di vật “Trống Đồng” như là những biểu tượng văn hoá
tiềm tàng h́nh ảnh “Thiên Chúa” của ông. Tôi gọi ông là
người lưu vong c̣n gốc rễ v́ nhiều người trong địa vị
của ông không c̣n nhớ hay không nhận ra được giá trị của
kho tàng văn hoá Việt Tộc. Lưu vong như ông th́ sẽ có
ngày trở về đầy ư nghĩa. Sự trở về trong tâm thức dân
tộc chứ không phải trở về trên những chuyến bay diêm dúa
hay tiệc vui nhố nhăng. Bởi v́ ông sẽ trở về với những
món quà văn hoá do chính ông sáng tạo bằng tâm thức dân
tộc.
Tôi cảm
ơn ông v́ đă kéo tôi lại gần ông để đọc những điều ông
viết. Văn chương của ông sẽ kéo nhiều người đến với ông,
không phải để t́m những phút giải trí giết thời gian dư
thừa. Nhưng để t́m về bản ngă dân tộc với niềm tin siêu
việt. Văn hoá và đạo giáo dân tộc là hành trang cho
người “tin đạo” (không phân biệt tôn giáo) đi t́m đường
giải thoát hay ơn cứu độ mà không bị mất gốc.
Một số trích đoạn nh́n về tác phẩm
VŨ KHÚC THĂNG CA
của Lm. Trần Cao Tường
ĐÀI VOA, Tiếng Nói Hoa Kỳ phát thanh trong chương tŕnh
Tin Văn Học Nghệ Thuật
Bằng
một giọng văn dí dỏm, đôi khi châm biếm, nhưng rất uyên
bác, quyến rũ, tác giả đă dùng những sự kiện hằng ngày
làm tấm gương soi, giúp người đọc cơ hội truy tầm chính
ḿnh... Chính v́ tính đời thường ắp đầy trên từng trang
chữ mà, người đọc không là Kitô Hữu, cũng vẫn bị từ
trường của trang sách cuốn, hút, giống như thể tác giả
đang thủ thỉ, kể một câu chuyện nho nhỏ cho riêng ḿnh
nghe.
Được
biết “Vũ Khúc Thăng Ca” là tác phẩm thứ 5 của linh mục
Trần Cao Tường. Hầu hết sách của ông được đọc giả đón
nhận một cách thân ái. Bởi v́, thế giới văn chương của
ông lúc nào cũng hắt lên một t́nh yêu tổ quốc chói gắt
và, niềm hưng phấn tươi rói nơi tương lai của dân tộc
Việt. Có dễ v́ tác giả “Vũ Khúc Thăng Ca” là con người
Việt Nam từ ư thức tới vô thức, nên rất nhiều người đă
nh́n ông như một “con người dân tộc” mà không phân biệt
tôn giáo. Dù cho ông sống một đời để đi gieo những hạt
giống Thiên Chúa trên mặt địa cầu.
NHÀ VĂN PHẠM XUÂN ĐÀI, Tập
San Thế Kỷ 21
Vũ Khúc
Thăng Ca nhằm giới thiệu cho người nghe, người đọc một
phương thức giản dị để sống hạnh phúc. Mỗi bài thường
bắt đầu bằng một câu chuyện ngắn vui vui, để từ đó qui
chiếu cho nó một ư nghĩa triết lư và một điểm tương ứng
trong niềm tin Thiên Chúa giáo. Những chuyện kể ấy tác
giả rút ra từ cuộc sống, từ sách vở cổ kim đông tây,
trong đó nhiều chuyện, nhiều nhận xét bắt nguồn từ phong
hóa, văn học Việt Nam.
Trước
khi là linh mục Thiên Chúa giáo, tác giả Vũ Khúc Thăng
Ca là một người Việt Nam “thuần chất”. Ông hiểu con
người Việt Nam sâu xa, ông ư thức rất rơ đạo lư mà dân
tộc Việt Nam dựa vào đó để tồn tại từ thượng cổ cho đến
ngày nay, ông cảm nghiệm sâu xa ư nghĩa của bánh dầy
bánh chưng, của tục ăn trầu, của ca dao tục ngữ... Nơi
ông như kết tụ cả một nền minh triết của tổ tiên.
Nhưng
ông cũng tắm gội trong ánh sáng dịu dàng của Thiên Chúa
giáo, với tâm linh rộng mở trong một t́nh thương yêu
đích thực. Tác giả đă nhiều lần cho thấy đạo lư, quan
niệm sống hoặc tập tục Việt Nam có nhiều điểm trùng hợp
với Thánh Kinh Thiên Chúa giáo. Chẳng hạn, Chúa Giêsu
dạy Con hăy thương yêu kẻ khác như chính ḿnh con, ca
dao Việt Nam nói Thương người như thể thương thân. Thánh
Kinh: Hạt lúa nếu không rơi xuống đất và chịu thối mục,
sẽ trơ trọi một ḿnh (Gioan 12:24), Ai cố giữ mạng sống
ḿnh th́ sẽ mất, ai vui chết sẽ được sống tṛn đầy (Gioan
12:25). Ca dao: Tưởng rằng đá nát th́ thôi, ai ngờ đá
nát nung vôi lại nồng.
Nh́n ra
rất nhiều chỗ tương đồng như thế, tác giả đă cho thấy
rằng trong văn hóa Việt Nam cũng như trong niềm tin
Thiên Chúa giáo, nếu đi ngược về chỗ đơn sơ nhất của tâm
thức th́ chân lư chỉ là một. Đời sống ngày càng phức tạp,
cách tổ chức xă hội, tôn giáo khác biệt nơi này nơi khác
trên quả đất có thể dần dần tạo ra các dị biệt, làm con
người ngày càng xa niềm tin cội nguồn vốn rất đơn sơ,
trong sáng, gần gũi nhau. Những bài giảng của linh mục
Trần Cao Tường chỉ ra và xóa bỏ các cách biệt ấy, mang
tâm hồn chúng ta về một cơi tin cậy chung. Và người
Thiên Chúa giáo Việt Nam, với khả năng dung hóa cố hữu
của dân tộc ḿnh, sẽ sống đạo một cách dung dị như ông
bà ḿnh đă từng sống tự ngàn xưa.
NHÀ THƠ DU TỬ LÊ
Cuốn
“Vũ Khúc Thăng Ca” của cha, tôi rất thích, là những bài
viết ngắn, có chủ đề, đi theo chiều dọc của niên lịch và
những biến động xảy ra hằng ngày trong đời thường của
chúng ta hôm nay.
Cha có
biết rằng, hàng đêm, trước khi đi ngủ, và mỗi sáng, mở
mắt ra, cũng có tới hai, ba tháng qua, tôi đều thầm cảm
ơn Thượng Đế đă cho tôi sống một ngày vừa qua - cho tôi
được sống , một ngày trước mặt. Tôi nghĩ nếu các cha
phải rao giảng trong các thánh lễ, áp dụng cách truyền
đạt Kinh Thánh và thánh ư Chúa kiểu như vậy, tôi tin,
con chiên và, luôn cả những kẻ ngoại đạo như Du Tử Lê,
sẽ tiếp thu được nhiều hơn.
Riêng
cá nhân tôi, dường như mỗi lúc một cảm thấy rơ, thật rơ,
sự hiện hữu của Thượng Đế. Điều này, suốt tuổi trẻ, tôi
không cảm thấy, nếu không muốn nói là chống báng. Tôi đă
từng viết xuống trong truyện của ḿnh.
Càng
ngày, tôi càng thấy rơ, mỗi chúng ta, hiện diện trên mặt
đất này, để hoàn tất một công việc nào đó, mà Thượng Đế
đă chọn sẵn cho từng cá nhân... Ngợi ca t́nh yêu, qua
chiếc cầu văn học nghệ thuật, với tôi, là công việc của
văn nghệ sĩ. Cá nhân nhỏ mọn của tôi, là giúp cho những
người đọc tôi, qua thi ca, cảm nhận ra rằng khởi tự t́nh
yêu mang tính cá nhân, gia đ́nh, người ta sẽ có t́nh yêu
tổ quốc, và rộng hơn nữa, t́nh nhân loại. Khi bước tới
t́nh nhân loại, là bước gần tới ánh sáng của Thiên Chúa,
của Thượng Đế v́, nhân loại, dù màu da, khu vực địa lư
nào, cũng đều là con cái của Chúa cả. Tôi cảm nghiệm
được điều đó khi đọc Vũ Khúc Thăng Ca: một người sẽ
không yêu Chúa, nếu không biết yêu cha mẹ, ḍng tộc của
ḿnh.
ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM HẢI
NGOẠI
Tác giả
có thể khởi đầu bằng bất cứ sự việc nào xẩy ra; từ những
đề tài liên quan đến Thần Học, Triết Học hay Tâm Lư học
đến những sự việc cỏn con xẩy ra, tác giả cũng đưa vào
đó những phân tích cặn kẽ để nh́n ra cái ư nghĩa tiềm ẩn,
cái sứ điệp nằm bên dưới cái vỏ bề ngoài coi bộ vô
thưởng vô phạt và tưởng rằng chẳng liên hệ ǵ đến ta”.
HỆ THỐNG INTERNET CÔNG GIÁO
VIỆT NAM (vietcatholic.net)
Vũ Khúc
Thăng Ca là tập hợp những bài viết trong mục Tin Vui
Thời Điểm 2000, có mặt và rất thu hút độc giả ngay từ
những ngày đầu tiên của hệ thống Internet VietCatholic...
Mỗi khi mục này lên Lưới chậm một chút là thế nào độc
giả cũng gửi e-mail lên tiếng.
Viết
với lối bút kư có khi nhẹ nhàng dễ đọc, giọng văn nhiều
lúc nhí nhảnh tươi vui, nhưng nhiều lúc bừng bừng chói
chang, có khi ngạo đời, khích động nơi người nghe, người
đọc, một suy tư và thái độ cần đáp trả. Tác giả luôn dí
dỏm – nhận xét thực tế cuộc đời: ba ch́m bảy nổi và trái
khoáy ở nơi tha hương này – để vẽ lên, diễn tả được
những bức h́nh nghệ thuật sinh động với ánh sáng âm
thanh mở lối soi rọi mà xoáy vào cơi ḷng một thiết tha
nào đó... Với kiểu tŕnh bày này, Tin Vui đă được nhiều
người đón nhận qua một cái nh́n mới không giấu diếm,
vượt qua cả làn ranh tôn giáo hay giới hạn nhà thờ.
NHÀ VĂN QUYÊN DI, nhà xuất
bản Thời Điểm, Cali.
Sách
được văn giới cũng như giới thưởng ngoạn đánh giá là
“sách tôn giáo đầy tính chất văn chương”, với đầy đủ
hương sắc và mùi vị, từ tranh Vincent van Gogh đến mắm
chấm gỏi cá Lê Thị Thành...
Là một
linh mục, tác giả Trần Cao Tường lấy Thánh Kinh làm
nguồn cảm hứng về cuộc đời, một cuộc đời mà bên cạnh
những biến cố lớn lao là muôn vàn chuyện tầm thường của
kiếp nhân sinh. Tin Vui với cái nh́n của tác giả, soi
rọi vào từng ngóc ngách, từng chuyển động của cuộc sống
ấy.
Nhưng
cũng là một nghệ sĩ, ở cả hai khía cạnh sáng tác và
thưởng ngoạn, tác giả say sưa với vẻ đẹp của cuộc sống,
say mê nhiều thể loại nghệ thuật, từ văn đến thơ; từ
kiến trúc, hội họa đến nhiếp ảnh... Người ta sẽ nh́n ra
cái nét tài hoa của ông qua những đoạn viết về cảnh vật,
cái nét suy tư của triết gia khi ông tŕnh bày nhân sinh
quan của ḿnh.
Nét nổi
bật nơi tác giả là “Con Người Việt Nam”. Ông say sưa
minh chứng người Việt có một đạo sống rất giản đơn,
nhưng rất hợp thời, đáp ứng được những thiếu thốn, những
khao khát của con người thời đại... Với ông, những “đạo
sống vuông tṛn”, “con đường nghiền nát trầu cau”, “gừng
cay muối mặn”, “cánh chim Âu”, “đạo trống”... là những
giá trị văn hóa của người Việt, không phải chỉ để chiêm
ngưỡng, ca ngợi, nhưng nhất là để áp dụng trong cuộc
sống con người thời nay... Một khi nắm bắt được bí quyết
ấy th́ người ta sẽ là chim thăng ca vút cánh vượt mốc
điểm thời gian, bay vào thiên niên kỉ thứ ba đang mở
rộng ḷng gọi mời nhân loại.
HOÀNG HẠC, New Orleans
“Vũ
Khúc Thăng Ca” có sức cuốn hút rất mạnh. Từng trang làm
tôi say sưa như t́m trong men rượu nho ngọt lịm. Từng
trang toàn những chuyện thật hấp dẫn và dẫn đưa độc giả
những bài học thực tế... Có những ghi nhận làm tôi rất
hứng khởi như chuyện trong quan tài của Diana (người Anh
Giáo), người ta cho công nương cầm chuỗi tràng hạt do Mẹ
Têrêsa ở Ấn Độ trao tặng... Nào chuyện 13 tổng thống Hoa
Kỳ thuộc Tam Điểm... Rồi đầu tắt mặt tối như tôi nghe
câu này c̣n hơn liều thuốc bổ “cao đơn hoàn tán”: “Lần
đầu tiên tôi nghe rơ tiếng nói của thinh lặng: Hăy để
ḷng bạn một khoảng trống, cho gió Trời có thể nhảy múa
thổi vi vu” (trang 77).
TRẦN THIỆN, tác giả bài hát
Khúc Sáo Ân T́nh
“Vũ
Khúc Thăng Ca” là sự chia sẻ niềm vui của một con người
từng trải và tha thiết yêu mến cuộc đời, nh́n thấy ánh
sáng ngay trong cảnh đêm tối dầy đặc, nhận ra những bông
hồng thắm trong các bụi gai rậm rạp, và t́m được những
cánh bướm rực rỡ từ những tổ sâu xấu xí kia. “Vũ Khúc
Thăng Ca” là một niềm vui sống động tràn đầy, không thể
giữ lại cho riêng ḿnh, mà phải bung ra cho người khác.
Một mầu
nhiệm lạ lùng đă được Thượng Đế ban tặng cho cuộc sống:
nỗi buồn mà được san sẻ sẽ vơi đi và biến mất; niềm vui
mà được thắp chung như cây nến Phục Sinh sẽ bừng lên ánh
sáng xua tan được bóng đêm. Xin cảm ơn tác giả “Vũ Khúc
Thăng Ca”, một niềm vui tṛn đầy đă lan tỏa sang người
khác để phát sinh một “Khúc Hát Thăng Ca” rộn ră cùng
với “Vũ Khúc Thăng Ca” có nhạc, có vũ, đem tặng cho cuộc
đời.
Triết gia KIM ĐỊNH đề BẠT
VỀ NGUỒN VIỆT ĐẠO
của LM Trần Cao Tường
Việc thâu nhận Thiên Chúa giáo vào Việt Nam cho tới nay
mới xảy ra trong giai đoạn một mà Nietzche gọi là của
Lạc Đà: ai muốn chất lên lưng cái ǵ nó cũng ngoan ngoăn
chở tuốt hết, không đặt một vấn đề nào, như hỏi tại sao
lại bảo tin như thế mà không thế khác. Nhưng rồi với sự
tiến triển của tâm thức th́ trước sau sẽ đến giai đoạn
hai của Sư Tử: nó sẽ gầm thét vang trời và muốn tung tất
cả xuống khỏi lưng để xét lại từng điểm, rồi chọn lựa,
cũng có thể cuối cùng nó sẽ thu nhận toàn bộ như trước,
nhưng không phải là nhận cách tối mặt nữa, mà đầy ư thức.
Từ đó nó sẽ bước êm vào giai đoạn ba của Hài Nhi với
cuộc sống viên măn tṛn đầy không c̣n ǵ phải thắc mắc,
v́ đă đi hết đường phát triển lư trí siêu linh rồi, chỉ
c̣n việc sống như chơi với Hóa nhi hí lộng. Đó là giai
đoạn sau này: đến đâu sẽ tính tới đó.
Chỉ
biết rằng theo kinh nghiệm lịch sử th́ nếu bước đầu của
giai đoạn hai mà đi mạnh được vào đường tâm lư xă hội
th́ những thiệt hại do cơn khủng hoảng nếu có sẽ giảm
thiểu tối đa. Vậy mà ta thấy cuốn VỀ NGUỒN VIỆT ĐẠO này
đi được như thế, nên ta có thể vui mừng vỗ tay khen ngợi.
Những
đề tài của Về Nguồn Việt Đạo đều hướng về tổ tiên dân
tộc: nào tiên rồng, đạo tổ, nào trầu cau, đạo trống, rồi
trống Đông Sơn. Đề tài nào cũng được tŕnh bày cách chân
thành trung thực. Đây quả là một ngạc nhiên thích thú
cho tôi, v́ ai cũng biết đạo Thiên Chúa phát xuất tự Tây
phương du nhập chưa được sửa soạn nhiều cho việc phục
Việt, nên trên nẻo đường về tương đối gặp nhiều khúc
khuỷu hơn. Vậy mà Về Nguồn Việt Đạo đă đi được một bước
vững chăi như thế hỏi sao không gây thích thú được.
Kim
Định
ĐƯỜNG NỞ HOA LÊ THỊ THÀNH
“Tác
phẩm vinh danh người mẹ Việt Nam, qua h́nh ảnh thánh nữ
Lê Thị Thành.
- Tác
phẩm đưa ra một lối sống nở hoa đem lại hạnh phúc sung
măn, mở ra một con đường nên thánh theo tu đức, linh đạo
Việt Nam.
- Tác
phẩm đem lại niềm hănh diện và tự tin cho người Việt,
khơi gợi cảm hứng để chúng ta cùng nhau xoay tṛn điệu
vũ thiêng của dân tộc, và với từng bước chân nở hoa trên
đường tu đức Lê Thị Thành, chúng ta hướng đến viễn ảnh
năm 2000 trong niềm hân hoan phấn khởi".
(nhà
văn Quyên Di, Thời Điểm Công Giáo)
“Tác
giả đă viết về bà Lê Thị Thành với một nguồn cảm hứng
thánh thiện, đă nh́n trong cuộc đời đạo đức b́nh thường
của người đàn bà Việt Nam thuộc thế kỷ 19 ấy những bài
học cho thế giới ngày nay, một thế giới tiến bộ nhưng
cũng có nhiều lệch lạc méo mó do sự tiến bộ ấy gây ra.
Theo tác giả, cuộc đời luôn cần ǵn giữ vẻ đẹp đơn sơ,
trong trẻo và chân thật mà Thượng Đế đă trao cho muôn
loài, mà h́nh ảnh nữ thánh Lê Thị Thành, một người đàn
bà mang đầy đủ đặc tính nữ giới Việt Nam, là một điển
h́nh”
(nhà
văn Phạm Xuân Đài, Thế Kỷ 21).
“Đây
là cuốn sách tu đức Việt theo lối sống Việt Nam, thật dí
dỏm mà lần đầu tiên được đọc. Cầm cuốn sách trong tay có
cảm tưởng như cầm một tấm lụa Việt Nam mịn màng, óng ánh
quư giá. H́nh dung Thánh nữ Lê Thị Thành là một con tằm,
thân thế thật tầm thường hèn mọn, một loài sâu như bao
loài sâu khác, và những hành động anh hùng trong đức tin
của bà như những sợi tơ mịn màng dệt thành cái kén quư
giá, khác xa những tổ sâu tầm thường. Lạ cái là theo
những cặp mắt tầm thường th́ con tằm là con tằm, cái kén
là cái kén, có ǵ đặc sắc đâu, nhưng đối với người có
con mắt tinh tường đă nh́n thấy được vẻ đẹp mĩ miều của
sợi tơ, và đă dùng nó để dệt nên những tấm lụa mượt mà
quí giá, tŕnh bày cho khách thưởng lăm. Cầm tấm lụa này
trên tay và thầm cám ơn người thợ dệt đă tốn công tốn
sức phô bầy những nét đẹp của sợi tơ mỏng manh, đẹp đẽ
và thật bền này”
(Quỳnh
Yến, nhóm Lên Đường)
LỜI GIỚI THIỆU ĐƯỜNG ĐI TỚI
NGUỒN
do Lm Đỗ Minh Trí (Gildo
Dominici), S.J.
Gần đây có người nói rằng giới trẻ của xă hội bây giờ
đang chết rét: giá băng v́ ích kỷ, hưởng thụ, lạm dụng
tính dục, và thiếu lư tưởng sống. T́nh yêu không c̣n là
giới luật của xă hội. V́ thế mà phát sinh buồn chán, tự
tử, phản loạn và bạo động v.v.
T́m
đâu ra lửa t́nh yêu để sưởi ấm lại các tâm hồn? T́m đâu
ra niềm vui, nụ cười, sự an b́nh và t́nh huynh đệ giữa
chúng ta? Câu trả lời chắc chắn là: Nơi Chúa. Thiên Chúa
xem ra bị khai trừ trong xă hội chúng ta: các phương
tiện truyền thông không để ư ǵ tới Chúa.
Đang
khi đó Chúa luôn hiện diện: Chúa không khai trừ con
người. Cơn khát Chúa đang ráo riết nơi tâm hồn nhiều
người thời nay. Chúa đang tích cực làm việc dù bề ngoài
xem ra không thấy. Ngài luôn trung thành, luôn yêu
thương. Con người thật quí trọng đối với con mắt Ngài.
Và v́ thế Ngài không bao giờ bỏ rơi.
Một
trong những dấu hiện diện đầy hoạt lực của Chúa trong
thế giới là những phong trào phát sinh trong Giáo Hội
những thập niên vừa qua: niềm thiết tha với Linh Thao,
Canh Tân, CLC (các nhóm sống đời Kitô) Cursillo,
Focolare, Thánh Linh...
Tất
cả là dấu Sức Sống Thiêng Liêng, dấu Thần Linh Chúa Làm
Việc trong tâm hồn và trong xă hội con người.
Cuốn ĐƯỜNG ĐI TỚI NGUỒN của Linh mục Trần Cao Tường được
h́nh thành trong chiều hướng canh tân đời sống nội tâm
này. Sách được đặt nền trên phương pháp Linh Thao của
Thánh Ignatio Loyola để hướng dẫn mọi người Việt khát
khao t́m Chúa và cả những người chưa cảm thấy thật sự
th́ cũng được khơi dậy ḷng khao khát đó.
Được viết theo lối dễ đọc, hợp thời, vui tươi, hướng tới
Cuộc Sống Hằng Ngày, Đường Đi Tới Nguồn mời gọi người
đọc tự đặt những câu hỏi lớn của cuộc sống: Tôi là ai?
Tôi từ đâu tới? Tôi sẽ đi đâu ? - Giúp đặt vấn đề là
giúp bắt đầu cuộc hành tŕnh đi tới Chúa, là Nguồn của
đời sống con người.
Đường Đi Tới Nguồn là đường dẫn tới gặp Chúa, như được
tŕnh bày trong sách, là con đường cầu nguyện và thinh
lặng. Chắc chắn không phải là con đường dễ cho giới trẻ
ngày nay đang lao ḿnh trong xoáy lốc hiếu động của đời
sống mới. V́ thế Thiên Chúa luôn khơi dậy trong Giáo Hội
những con đường mới đi tới Ngài, hợp cho hoàn cảnh con
người mỗi thời đại.
Thời bây giờ cũng vậy, hấp lực tới Chúa, sự khẩn thiết
sâu xa đi tới Nguồn th́ mạnh mẽ hơn cả kỹ thuật và mọi
h́nh thức duy vật. V́ thế mà thinh lặng và đời sống nội
tâm luôn là con đường hệ trọng đi gặp Chúa.
Tôi ao ước cuốn sách này được phổ biến rộng răi, và cầu
mong cuốn sách giúp được nhiều tâm hồn Việt t́m gặp Chúa.
Gặp được Chúa rồi tâm hồn người Việt sẽ phong phú, vượt
qua đau khổ và nếm được T́nh yêu ngọt ngào của Chúa, là
nguồn cảm hứng cho cả Giáo Hội và xă Hội Hoa Kỳ.
Linh
mục Gildo Dominici, S.J.
---
ĐÀI
Á CHÂU TỰ DO RFA PHỎNG VẤN LM. TRẦN CAO TƯỜNG TRONG
CHƯƠNG TR̀NH VĂN HỌC NGHỆ THUẬT
RFA:
Xin linh mục cho biết, cho tới giờ, linh mục đă hoàn tất
bao nhiêu tác phẩm? Những tác phẩm của linh mục thể hiện
sự hài ḥa giữa đạo và đời, hay chỉ thuần về đạo, hoặc
thuần về đời?
Lm.
Trần Cao Tường: Trước năm 1989, tôi đă xuất bản 8 cuốn
mang tính chất thuần về đạo và giáo dục tôn giáo. Nhưng
sau đó, tức sau biến cố Hội Thánh Công giáo hoàn vũ tôn
phong 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam, tôi bắt đầu chuyển
hướng viết. Phong thánh là công nhận một mẫu sống đáp
ứng thời đại. Tôi nghĩ, biến cố đă tạo nên niềm hănh
diện và hứng khởi không chỉ riêng cho người Công giáo mà
c̣n chung cho cả dân Việt ḿnh với thế giới nữa. V́ cả
một lối sống theo tinh thần Việt hài ḥa với đức tin
Công giáo đă được thế giới đề cao và chính thức giới
thiệu như một phương thức sống hạnh phúc đáp ứng thời
điểm nhân loại chuyển ḿnh vào ngàn năm mới, với đầy hy
vọng về tiến bộ khoa học mà cũng đầy lo âu khắc khoải.
Niềm
hănh diện này cần phải được thể hiện, bộc phát thành
những phong trào, và gợi hứng cho những sáng tác về văn,
thơ, nhạc, và các ngành nghệ thuật mang căn cước Việt,
góp phần Công giáo vào gia tài chung của Mẹ Việt Nam.
Chính
v́ thế tôi cũng muốn đóng góp phần nhỏ bé của ḿnh vào
chiều hướng này bằng 2 tác phẩm là Về Nguồn Việt Đạo và
Đường Nở Hoa Lê Thị Thành.
Cuốn Về
Nguồn Việt Đạo được triết gia Kim Định đề bạt, t́m nối
kết hài ḥa đức tin Công giáo với gia tài văn hóa Việt
tộc.
C̣n
cuốn Đường Nở Hoa Lê Thị Thành khai triển trực tiếp
đường tu đức Việt, tức mẫu sống đức tin Công giáo theo
tinh thần Việt, điển h́nh qua một người Mẹ Việt Nam, tức
vị thánh nữ duy nhất của Hội Thánh Công giáo Việt Nam là
thánh Lê Thị Thành, chứng nhân Tin Vui Đạo Chúa như một
người Việt trong truyền thống văn hóa Việt.
Từ năm
1996 tôi có dịp cộng tác với nhà văn Quyên Di trong
chương tŕnh Tin Vui Gửi Thời Đại Mới phát thanh hằng
tuần tại nhiều thành phố. Tin Vui từ sứ điệp Kinh Thánh
của đạo Chúa được diễn tả trong tâm thức Việt. Mà đă là
Tin Vui th́ không giới hạn trong cửa nhà thờ, nhưng phải
đi tới được cảm nghiệm đời thường, góp phần đáp ứng cơn
khắc khoải của con người ngày nay, cách riêng của người
dân Việt qua biết bao bầm dập nổi trôi. Nói khác hơn,
ḿnh cần cảm nghiệm được Tin Vui của Đạo trong khung
mạch đời thường và trong ḍng sống của dân tộc ḿnh.
Rồi
những bài viết hằng tuần này đồng thời cũng được phóng
lên mạng lưới điện toán. Nhiều người đă hưởng ứng và
khuyến khích tôi gom lại in thành sách. Cuốn thứ nhất là
Vũ Khúc Thăng Ca, cuốn thứ hai là Nhịp Múa Sông Thanh,
cả hai đều nhằm góp phần chuyển diễn một nhịp sống mà
con người sau những chạy mệt và đi mỏi đang cần vươn tới
vào thời điểm 2000, trong cùng một điệu vũ từ tâm thức
Việt, như cánh chim vút bay về núi và rồng thiêng chuyển
lực dưới sông. Và mới đây, cuốn Khúc Sáo Ân T́nh như một
mốc ghi được kết bằng 25 ḥn đá rải rác trên một quăng
đường 1975-2000, mốc ghi 25 năm người Việt ly hương mở
ra biên cương mới của đất Việt trong tầm nh́n mới. Trong
cái rủi có cái may. Đạo Trời qua vận hành của lịch sử
thật kỳ bí. Người ḿnh cứ ra đi và mở tới, từ vùng sông
Dương Tử đi xuống sông Hồng, rồi sông Hương, sông Đồng
Nai, sông Chín Con Rồng. Và bây giờ một cách nào đó có
thể đă là sông Mississippi...
RFA:
Khuynh hướng sáng tác của linh mục như thế nào?
Lm.
TCTường: Khi viết, trước hết, tôi chẳng nhằm mục đích
chuyển đạt tư tưởng thuyết phục ai cả, mà chỉ mong chia
sẻ độ rung và thái độ nh́n của ḿnh về những biến động
xảy ra trong cuộc sống hằng ngày. Tôi coi những chuyện
xảy ra, dù bế tắc đen xám mấy, cũng đều là những mốc ghi
mang ư nghĩa. Những ai có dịp qua chương tŕnh tâm lư
viết Nhật Kư Cô Đọng theo Ira Progoff th́ đều nhận ra
rằng: mọi biến cố liên hệ đến đời ḿnh, từ cha mẹ, đất
nước ḿnh, đều là những ḥn đá xây nên đời ḿnh, cần gom
lại, ghép lại những mảnh rời, th́ đời ḿnh mới có thể
phát triển lành mạnh được. Nên không thể yêu Chúa nếu
không biết yêu ḍng tộc và quê hương ḿnh, qua những bi
thảm cũng như những hùng tráng.
Nhưng
tôi cũng vui, v́ nhiều người đọc và nghe những độ rung
ấy liền bác cầu cảm thông. Và như vậy là đă có điểm gặp
gỡ ở những độ rung hơn là thuyết lư xa cách. Mấy tác
phẩm trên đều gặp được hạnh ngộ như thế, v́ đă được một
số cơ quan truyền thông và các nhà văn, nhà báo ngoài
Công giáo chú ư. Như đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA, Đài Việt
Nam Hải Ngoại, nhà xuất bản Thời Điểm ở Cali, tập san
Thế Kỷ 21 ở Cali, tập san Sứ Điệp ở Boston, và nhà thơ
Du Tử Lê niềm nở giới thiệu trên nhiều báo chí khác nhau.
Riêng nhà thơ Du Tử Lê viết lời Tựa cho cuốn Nhịp Múa
Sông Thanh.
Tôi
thấy rằng, trước khi là một người Công giáo và rồi là
một linh mục, tôi đă là một người Việt Nam mang 100%
chất Việt. Tôi xác tín vào gia sản văn hóa Việt Nam có
thể góp phần với thế giới đang tiến bộ về mọi mặt ngày
nay; đồng thời nền văn hóa nào nếu không muốn bị đào
thải, cũng cần phải được phát triển, có khả năng thâu
hóa được những tinh túy của thế giới. Người ḿnh có cả
một đạo sống cao đẹp, từ những kho giầu ca dao tục ngữ,
những truyện thiêng liêng nhất của Việt tộc như Bánh Dầy
Bánh Chưng, Truyện Trầu Cau nói lên t́nh nghĩa chỉ có
thể phát khởi từ hy sinh quên ḿnh rất đúng khoa tâm lư
về t́nh yêu ngày nay: con đường nghiền nát trầu cau, nên
màu đỏ thắm nên màu sắt son; Truyện Phù đổng Thiên Vương
với sức mọc cánh do chân không diệu hữu bay về Trời;
Truyện Tản Viên Sơn Thánh, Truyện Chử Đồng Tử, Truyện An
Tiêm với niềm tin căn bản vào Trời của Việt tộc: Trời
sinh trời dưỡng.
Thật
kinh ngạc, niềm tin tức quan niệm sống của người ḿnh có
nhiều điểm rất giống với Thánh Kinh đạo Chúa. Chẳng hạn,
Chúa Giêsu dạy Con hăy thương yêu kẻ khác như chính ḿnh
con, người Việt nói Thương người như thể thương thân.
Thánh Kinh: Hạt lúa nếu không rơi xuống đất và chịu thối
mục, sẽ trơ trọi một ḿnh (Gioan 12:24), Ai cố giữ mạng
sống ḿnh th́ sẽ mất, ai vui chết sẽ được sống tṛn đầy
(Gioan 12:25). Ca dao: Tưởng rằng đá nát th́ thôi, ai
ngờ đá nát nung vôi lại nồng.
Như vậy,
văn hóa hay truyền thống không phải là một thứ đồ cổ để
cố thủ hay khoe mẽ cho bớt tủi, mà phải là một sinh lực
khơi cho ḍng nhựa chảy tới, mang chất tươi mát sinh hoa
kết trái cho cuộc sống hiện tại. Ông Edward Herriot nói
rất đúng: "Văn hóa là cái c̣n lại khi người ta đă quên
đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đă học tất cả."
RFA:
Theo linh mục, văn của linh mục mang những đặc điểm nào?
Lm.
TCTường: Tôi thường viết theo kiểu bút kư như đă có thói
quen từ nhỏ, và chọn lối viết b́nh dị gần gũi như nói
chuyện vậy thôi, tránh kiểu trường ốc cầu kỳ xa vời.
Nghĩa là chụp ghi những chuyện xảy ra mỗi ngày, liên hệ
tới ḿnh như một người Việt, liên hệ tới gốc gác ḿnh,
và kể lại dưới ống kính nội tâm. Đây chính là phương
cách của Đức Giêsu trên đường Emmaus khi phải loan báo
một Tin Vui cho hai môn đệ trong lúc xuống tinh thần tột
độ. Ngài không bắt đầu bằng một "bài giảng" kiểu cách,
v́ dễ gây dị ứng, nhưng khởi đi từ chính chuyện đang xẩy
ra mà ai cũng cảm thấy nhưng chưa sao t́m được câu trả
lời: các bạn có chuyện ǵ mà mặt buồn rầu bí xị vậy? Và
đợi đúng lúc lắng nghe thổ lộ hết được "tim gan phèo
phổi" trong mối trăn trở, Ngài mới nhẹ nhàng đưa ra giải
đáp. Món ăn Ngài dọn như vậy dễ hợp khẩu vị.
RFA:
Việc linh mục sáng tác như vậy có ảnh hưởng ra sao tới
việc hành đạo của linh mục? Và ngược lại, con đường dẫn
dắt Con Chiên của linh mục có bổ sung cho việc sáng tác
văn học không?
Lm.
TCTường: Làm ǵ có biên giới giữa đạo và đời. V́ Đạo vốn
đă nhập thể vào trong đời. Con mắt của người tin th́
luôn thấy Chúa hiển hiện trong cuộc sống đời thường.
Dùng tiếng "sáng tác" th́ có vẻ hơi lớn, thực ra, như
vừa nói, tôi viết như viết nhật kư vậy thôi, chụp ghi
những ǵ ḿnh thấy và diễn tả lại tâm tư. Tôi có kiểu "giảng"
trong nhà thờ cũng thế. Như vậy, việc hành đạo và chuyện
ghi viết cũng là một. Ánh sáng Tin Vui của đạo soi chiếu
những khúc mắc của cuộc sống đời thường, và những rung
động trong tâm thức Việt giúp cho đạo nhập thể mang được
thịt xương Việt, trong nhịp tim u uẩn những khúc thương
đau cũng như nhịp thở hào hùng những phút vinh quang của
lịch sử dân ḿnh.
RFA:
Trong những ngày sắp tới, linh mục có dự định ǵ về sinh
hoạt văn học nghệ thuật?
Lm.
TCTường: Ai cũng thấy thân phận người ḿnh trải qua quá
nhiều chao đảo, ḷng người ly tán, giới trẻ nhiều khi
không rơ hướng nào mà đi. Ai cũng kêu gọi về nguồn, mà
chả biết gốc rễ nào mà bám! V́ thế nỗi trăn trở của
nhiều người cũng như cá nhân tôi là làm sao góp phần nhỏ
bé của ḿnh vào việc t́m kiếm tụ điểm tinh thần, góp
phần khai triển nét văn hóa giầu có của người ḿnh vào
cuộc sống hiện tại, chứ không phải chỉ như một món đồ cổ
để hănh diện nuối tiếc hay đề cao ra như cũng phải có
một cái ǵ khác người cho bớt tủi v́ mặc cảm.
Xin đưa
ra một cái mẫu cụ thể: Người ḿnh có thực kém đoàn kết
hơn người người Tầu, người Nhật, người Do Thái không?
Tôi không nghĩ như thế. Dân Do Thái cũng là tập hợp của
nhiều bộ tộc với nhiều khuynh hướng trái ngược nhau,
nhất là trong hoàn cảnh ly tán khắp thế giới mỗi người
một nẻo, mỗi người một ảnh hưởng nền văn hóa địa phương,
mỗi người một giải pháp để sống c̣n. Vậy mà họ vẫn tạo
được sức mạnh chung. Đâu là bí mật?
Chắc
chắn lớp dân Do Thái tản mát đi khắp nơi đă trở nên ră
rời chia rẽ như một đống xương khô. Nhưng họ không tốn
sức than trách đổ tội hoặc buông xuôi, hay chỉ kêu gọi
đoàn kết suông giữa không khí. Càng nhân danh văn hóa,
nhân danh chính nghĩa, nhân danh tự hào dân tộc, càng
thêm mất tin tưởng, càng thêm chia rẽ, càng thêm bẽ bàng,
chỉ v́ chưa có căn bản nào làm tụ điểm. Trong trạng
huống này, Ezekiel đă bật lên một viễn kiến từ một niềm
tin, và Isaia cùng với "Nhóm Do Thái Sót Lại" (Remnant
of Israel) tạo được một phong trào thể hiện một kế hoạch
thực tiễn. Đó là phải t́m cho ra tụ điểm tinh thần.
Họ đă
gom tất cả các truyện thiêng từ những huyền thoại của
dân tộc Do Thái, từ những câu truyện truyền miệng từ đời
này sang đời khác, cho đến những lễ nghi tế tự và phong
tục, những bài ca dao tục ngữ, những lời răn dạy khôn
ngoan, đều được kính cẩn thu lại thành văn bản. Và điều
chắc chắn là tất cả những cuốn sách mà ta gọi là Cựu Ước
(Old Testament) như văn bản ta có ngày nay, đă chỉ thành
h́nh vào quăng trước và sau thời kỳ lưu đầy ở Babylon
vào thế kỷ thứ sáu trước công nguyên. Nói cách khác, bộ
kinh Do Thái chỉ thành h́nh do hoàn cảnh đ̣i hỏi này,
dưới con mắt bật sáng của niềm tin, tạo nên một trào lưu
phổ biến bằng chương tŕnh giáo dục đại chúng. V́ thế mà
họ đă phát động xây những hội đường giống như cái đ́nh
làng ở bất cứ nơi nào có người Do Thái sinh sống, để có
nơi tụ họp thường xuyên mà học hỏi và thực hành kinh
điển ứng dụng cho đời sống.
Lịch sử
dân tộc phải có một ư nghĩa và hướng đi chứ không phi lư
lăng nhách. V́ họ tin vào ông Trời dẫn đầu và nối kết
tất cả lại như những sợi chỉ mầu trong một tấm thảm lớn.
Trong nhăn quan này, họ bắt đầu ghi lại truyện tổ tiên
từ một gia đ́nh nhỏ bé của quốc tổ Abraham, sống nghề du
mục nay đây mai đó suốt từ giải đất Ur tới Haran vùng
Mesopotamia rồi ṿng xuống Ai Cập. Tổ tiên như vậy th́
chưa chắc đă có ǵ đặc sắc so với những dân đương thời,
nhưng đối với người Do Thái th́ quan trọng lắm. Từ trong
cảm nghiệm, họ "thấy" rơ họ là dân được tuyển chọn để
qui tụ với một sứ mạng, có tổ có nguồn đàng hoàng. Và
nhiều câu truyện truyền kỳ khác về khởi nguyên dân tộc
họ được gom lại, khiến họ càng có một độ rung chung với
nhau về nguồn gốc, và tự tin vào bản sắc của ḿnh. Cũng
như đám anh em tản mát bỗng t́m lại được mẹ làm tổ ấm
qui tụ gia đ́nh.
RFA:
Sau cùng, linh mục có muốn nhắn gởi ǵ không, liên quan
đến văn học nghệ thuật?
Lm.
TCTường: Như đă thấy, quả thực, phép lạ hồi sinh Do Thái
đă phát khởi từ một niềm tin, thể hiện thành một bộ kinh
tin làm tụ điểm tinh thần. Mong rằng đây cũng là nỗi ưu
tư căn bản của người ḿnh ở thời điểm này.
Người
Việt cần t́m ra cách hóa giải được nỗi oan, vượt qua
được mặc cảm, hồi phục được tinh thần. Để phục hưng, ai
cũng nghĩ ngay tới những giải pháp về kinh tế, xă hội,
những kế hoạch kỹ thuật khoa học, đào tạo nhân tài v.v.
Điều này thật đúng và cần thiết. Nhưng quan trọng trước
hết vẫn là chủ đạo, vẫn là nỗ lực t́m ra được tụ điểm
tinh thần qua bộ kinh dân tộc.
Rất
may, Việt tộc cũng có cả một truyền thống kho tàng
truyện thiêng truyền miệng qua bao thời, với ḷng tôn
kính Tứ Bất Tử qua các lễ hội, và một kho tàng vô giá ca
dao tục ngữ như hơi thở của linh hồn Việt tộc. Bao giờ
ḿnh mới xác tín được tầm mức rất ư then chốt này để
cùng xây dựng một bộ kinh tin làm trụ đồng mang uy lực
qui tụ? Lời yểm của Mă Viện khi muốn bẻ gẫy và chôn vùi
biểu tượng qui tụ không khéo mà vẫn c̣n ám ảnh: Đồng trụ
chiết, Giao Chỉ diệt!
|