|
TỪ NỮ THẦN ĐẾN NỮ QUYỀN
TRONG TIỂU THUYẾT “MẬT MĂ DA
VINCI”
Linh Mục Giuse Trịnh Tín Ư
Tác giả Dan Brown tuyên bố, “Mật Mă Da Vinci
chỉ là cuốn tiểu thuyết!”, Đă hẳn, tiểu
thuyết là chuyện hư cấu nhưng bên kia những
hư cấu, ai chẳng biết tác giả muốn gửi gắm
những hậu ư xa gần. Ở đây Dan Brown như muốn
đứng ngoài niềm tin để “soi sáng” cho các
Kitô hữu về đức tin Công Giáo và muốn đứng
trên Giáo Hội bẻ ḍng lịch sử của Giáo Hội.
Nếu từ góc nh́n của những người không tin
nói về nội dung đức tin sẽ chẳng có ǵ đáng
nói. Nhưng nếu Dan Brown chỉ có đôi ba tài
liệu mảnh vụn và một ít văn bản cổ thời giả
lịch sử, đem vá đụp ngụy tạo cả lịch sử Giáo
Hội, một lịch sử gắn liền với đức tin của
các Kitô hữu, anh có thể bất công gây ra
những ngộ nhận đáng tiếc. Chẳng hạn Dan
Brown hay trưng dẫn The Templar Revelation
và Holy Blood, Holy Grail (xb.1982) và coi
như “tài liệu lịch sử” ch́a khoá cho Mật Mă
Da Vinci, làm lối dẫn nhập vào tác phẩm
khuôn mặt của nữ thần Maria Mađalêna, dẫn
sang lư thuyết về nữ quyền và dẫn tới phong
cách phóng khoáng, lăng mạn của nhân vật
Giêsu và một nề nếp “ngục tu” của Giáo Hội.
Trong một khuôn khổ bé nhỏ, chúng ta nhận
mặt nữ thần Maria Mađalêna trong Mật Mă Da
Vinci và t́m hiểu thánh nữ Maria Mađalêna
trong Tin Mừng, trong lịch sử Giáo Hội. Cuối
cùng là một thoáng nh́n chủ thuyết nữ quyền
của Dan Brown dưới ánh sáng của Thánh Kinh
và giáo huấn của Giáo Hội, đặc biệt Tông Thư
Dignitatem Mulieris của Đức Gioan Phaolô II.
I. ‘NỮ THẦN MARIA MAĐALÊNA’ VÀ NHỮNG TÀI
LIỆU SỬ DỤNG TRONG MẬT MĂ DA VINCI
A. Sự thực về tài liệu “Holy Blood, Holy
Grail”
Dan Brown dựa vào tài liệu “Holy Blood, Holy
Grail” xuất bản năm 1982 để viết về nữ thần
Maria Mađalêna, về Hội Kín The Priory of
Sion. Tác giả của “Holy Blood, Holy Grail
lại dựa vào tài liệu của Plantard, một người
Pháp dị ứng với dân Đông Á từng ngồi tù năm
1953 về tội buôn lậu. Năm 1954 Plantard và
ba người khác bắt đầu thành lập một câu lạc
bộ xă hội nho nhỏ mang tên một ngọn núi gần
đó, Priory of Sion. Câu lạc bộ được thành
lập để kêu gọi xây thêm nhiều nhà giá rẻ tại
Pháp. Câu lạc bộ này đă biến mất năm 1957
nhưng Plantard vẫn c̣n giữ tên nó.
Suốt thập niên 1960 và 1970 Plantard đă tạo
ra một loạt tài liệu chứng minh một ḍng
huyết tộc vẫn tồn tại từ Maria Mađalêna
xuống tới con cháu hôm nay nhờ những vị vua
của nước Pháp. Trong số đó có có Pierre
Plantard. Họ bắt đầu sử dựng tên Pierre
Plantard de Saint Clair và nói Saint Clair
là con cháu ḍng trực hệ của cặp vợ chồng
Giêsu- Maria Mađalêna.
Năm 1933, tên của Plantard đă bị lộ tẩy
trong một vụ x́ căn đan chính trị dính líu
tới một người bạn thân của vị Tổng Thống
Pháp, Francois Mitterand. Ở một trong những
danh sách các tài liệu của Plantard về
Priory of Sion, ông có ghi tên Roger Patrice
Pelat như một vị Thày Lớn. Khi bị gọi ra làm
chứng trước ṭa, Plantard bằng một lời thề,
thừa nhận chính ḿnh đă tạo ra toàn bộ kế
hoạch Priory. Toà ra lệnh truy t́m nơi ở của
Plantard. Chính căn nhà này đă để lộ những
tài liệu khác công bố Plantard là ông vua
đích thực của nước Pháp. Quan toà đă nghiêm
khắc cảnh cáo Plantard và thả về v́ ông là
một gă khật khùng vô hại (Tổng hợp theo
James L. Carlon, Peter Jones trong Cracking
Da Vinci’s Code, Xb. 2004). Nếu quan toà hồi
ấy biết được mức tác động rộng dài trong
cuộc lừa đảo của Plantard, hẳn ông sẽ truyền
huỷ bỏ những tài liệu Plantard đă đẻ ra.
Thật đáng tiếc cuộc lừa đảo của Plantard đă
bị Dan Brown lợi dụng đua hàng triệu độc giả
sa vào mớ ‘tài liệu lịch sử’ quỉ quái của
ông. Như thế nàng Mađalêna hoang đường của
anh chàng khật khùng Plantard trong Holy
Blood, Holy Grail đă biến thành Nữ Thần
Maria Mađalêna, người phụ nữ ‘trâm anh thế
phiệt’ của Mật Mă Da Vinci. và chuyện lường
gạt trong Holy Blood, Holy Grail đă được tả
như thật trong Mật Mă Da Vinci:
Chuyện đời của Maria Mađalêna kể vắn từ tiểu
thuyết Mật Mă Da Vinci: nàng là dân Do Thái
thuộc bộ tộc Benjamin, là vợ của Đức Giêsu
và sinh được người con gái là Sarah. Đức
Giêsu muốn trao Giáo Hội trong tay nàng.
Bụng dạ nàng chính là “Chén Thánh (Holy
Grail)” ǵn giữ lấy giọt máu, cốt cách của
Đức Giêsu. Hài cốt của nàng vẫn c̣n bên dưới
lối vào của toà nhà kim tự tháp bằng kiếng
thuộc viện bảo tàng Louvre. Hội kín The
Priory of Sion và Knights Templar t́nh
nguyện bảo vệ chuyện đời và các di tích của
nàng. Priory đă tôn thờ nàng như “Nữ Thần”
và như “Người Mẹ Thần Thánh” của họ.
“Sử gia” Teabing của Mật Mă Da Vinci kể,
“Theo Hội Kín Priory, Maria Mađalêna mang
thai vào thời điểm Chúa bị đóng đinh. V́
muốn giữ an toàn cho đứa con chưa chào đời
của Đức Kitô, nàng không c̣n chọn lựa nào
khác hơn là trốn khỏi Đất Thánh. Được người
cậu đáng tín nhiệm của Đức Giêsu là Giuse
Arimathêa, bí mật đưa qua Pháp và được mọi
người biết với tên gọi là Gaul. Tại đây
Maria Mađalêna ẩn náu trong cộng đồng người
Do Thái với con gái, Sarah.
“Cuộc đời hai mẹ con đă được những người Do
Thái bảo vệ và được ghi chép rất cặn kẽ.
Đừng quên, đứa con của nàng thuộc ḍng dơi
các vua chúa Do Thái, Đavid và Salomon. Do
đó dân Do Thái ở Pháp đă coi Maria Mađalêna
thuộc hoàng gia thánh thiêng và tôn kính
nàng như tổ tiên của một ḍng máu hoàng
tộc...”
B. Tài liệu của Margaret Starbird
Margaret Starbird là tác giả của các tác
phẩm The Templar Revelation; The Sacred
Feminine; Maria Mađalêna, The Beloved; The
Goddess in the Gospels, The Woman With The
Alabaster Jar. Tác giả này chuyên sử dụng
khoa số học biểu tượng (numerology), một
ngành rất gần với bói toán và tử vi (?).
Chẳng hiểu bà phù phép thế nào với những con
số trong tên gọi và kết luận Maria Mađalêna
được tôn kính như một nữ thần trong Kitô
giáo thuở ban đầu:
“Họ hiểu ‘thần học về con số’ trong thế giới
Hy Lạp, những con số đă mă hoá trong Tân Ước
dựa vào kinh bộ cũ của khoa số học thánh
thiêng, bắt nguồn từ các môn đệ Pythagore
vào những thế kỷ trước... Đó không phải ngẫu
nhiên mà dung từ (epithet) của ‘Mary
Magdelene’ đă mang những con số để những
người có học biết của thời đại đó nhận ra
nàng là “Nữ Thần trong các Tin Mừng”(trích
từ sách Maria Mađalêna: ‘Người Được Yêu do
tác giả Margaret Starbird (Tổng hợp theo
James L. Carlon, Peter Jones trong Cracking
Da Vinci’s Code, Xb. 2004 và De-Code Da
Vinci của Amy Welborn. Xb. Our Sunday
Visitor, Inc.)
Theo lập luận của Dan Brown, các tín hữu
thuở ban đầu đă tôn kính nữ thần Maria
Mađalêna. Trong khi Giáo Hội luôn bôi lọ
nàng là cô điếm, và phe phái của Phêrô luôn
t́m cách khử trừ nàng. Về phương diện xă
hội, lư giải này mâu thuẫn v́ nếu các tín
hữu ban đầu đă thờ nàng là nữ thần, tại sao
họ không tỏ lộ và công khai hoá niềm tin của
ḿnh? Tại sao cứ ái ngại các môn đệ của Chúa
Giêsu Chịu Đóng Đinh Và sống Lại đang khi họ
có thể tôn thờ Maria Mađalêna nếu thực sự họ
muốn, v́ chẳng ai lên tiếng đả kích họ trên
b́nh diện xă hội, văn hoá hay chính trị. Và
chẳng ai, chẳng thế lực nào bắt bớ, bỏ tù
hay hành h́nh họ. Trong khi những Kitô hữu
tin theo Chúa Giêsu chịu đóng đinh và sống
lại, từ người đứng đầu tới người tiếp bước
luôn bị người ta bách hại, nhưng vẫn sống
chết tin theo và tôn thờ Người. Nếu Dan
Brown biết tới con số các tín hữu tuyên xưng
đức tin vào Chúa Giêsu, hẳn anh chẳng bất
công, vô lư với những luận điệu ‘ngậm máu
phun người ấy’. Nói cho cùng v́ có sẵn đó
‘nữ thần’ Maria Mađalêna trong bài bói toán
của Margaret Starbird (Tác giả của The
Templar Revelation; The Sacred Feminine;
Maria Mađalêna, The Beloved; The Goddess in
the Gospels, The Woman With The Alabaster
Jar), trong “tài liệu lịch sử” bệnh hoạn của
gă Plantard (Tác giả của Holy Blood, Holy
Grail) nên mới có được ‘nữ thần’ Maria
Mađalêna trong hư cấu của Mật Mă Da Vinci.
II. NỮ THÁNH MARIA MAĐLÊNA TRONG TIN MỪNG
VÀ GIỮA GIÁO HỘI ĐÔNG PHƯƠNG VÀ TÂY PHƯƠNG
Rơ ràng Maria Mađalêna là nhận vật lịch sử.
Nàng được Tin Mừng nhắc tên và cùng với
nhiều phụ nữ khác, nàng lănh nhận vai tṛ
rất quan trọng trong cuộc Thương Khó và Phục
Sinh của Chúa Giêsu. Tin Mừng Luca kể: “Sau
đó Đức Giêsu rảo qua các thành phố, làng mạc
rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên
Chúa. Cùng đi với Người có nhóm Mười Hai và
mấy người phụ nữ đă được Người trừ quỷ và
chữa bệnh. Đó là bà Maria gọi là Maria
Mađalêna. Người đă được giải thoát khỏi bảy
quỷ, bà Gioanna, vợ ông Khuda quản lư của
vua Hêrôđê, bà Suzana và nhiều bà khác”(Lc
8, 1-3). Các phụ nữ này từ Galilêa được chọn
để đi theo giúp đỡ Chúa Giêsu, chẳng hạn lo
bữa ăn, lo tiền bạc. Ở cuối Tin Mừng này
Maria Mađalêna được ghi nhận là nhân chứng
cuộc Tử Nạn và an táng Chúa. Cũng chính nàng
đă tới mồ thánh vào buổi sáng ngày phục sinh
để xức xác Chúa. Tuy nhiên các Tin Mừng ghi
nhận có nhiều bà Maria. Độc giả có thể lẫn
lộn các bà Maria khác hoặc có thể kết hợp bà
Maria được kể chỗ này với một Maria chỗ khác
hay với một phụ nữ khác nữa được kể ở đâu
đó.
Chẳng hạn có hai câu truyện khác nhau về
những phụ nữ xức dầu thơm trên chân Chúa
Giêsu và lấy tóc lau. Trong Lc 7, 36-50,
Chúa ngồi đối diện với “một phụ nữ là người
tội lỗi”, người đă khóc lóc sám hối xức dầu
và lau chân Chúa, rồi lấy tóc mà lau. Nàng
xức dầu để ghi ơn ḷng tha thứ của Chúa.
Trong Ga 12, 1-8, Chúa Giêsu đang trên đường
tới Giêrusalem, Người ghé thăm nhà Lazarô
(người đă chết, được Chúa cho sống lại) và
các cô chị, Maria và Macta. Maria xức dầu
thơm trên chân Chúa và lấy tóc lau. Hành
động này được coi như một tiền dung cho cuộc
xức xác Chúa trong ngày an táng vài ngày sau
đó.
C̣n bà Maria ở làng Bêtania, v́ bà xức dầu
thơm cho Chúa Giêsu trước khi vào
Giêrusalem, một vài truyền thống đă nối kết
bà với một phụ nữ xức dầu cho Chúa trong
Luca 7 và với phụ nữ có tên Maria Mađalêna
trong Luca 8, cả ba phụ nữ được kết hợp vào
một.
Vào cuối thế kỷ thứ hai, đầu thế kỷ ba ở
Rôma, Thánh Hippôlitô đă diễn tả Maria
Mađalêna như một Eva mới mà đức tin của bà
đă đứng vững trước tội lỗi của Eva trong
vườn Diệu Quang (h́nh ảnh này thường được áp
dụng cho Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu). Ngài c̣n
gọi Maria Mađalêna là “người tông đồ giữa
các tông đồ”. Thánh Ambrôsiô và Augustinô,
cả hai đă viết trễ hơn khoảng một thế kỷ,
cũng nói về Maria Mađalêna như Eva mới. Như
thế, những ǵ Dan Brown suy đoán về chuyện
đời của Maria đều sai lạc. Với Giáo Hội Tây
Phương, ngay từ thời Trung Cổ tới ngày cải
cách lịch phụng vụ năm 1969 đă mừng lễ thánh
Maria Mađalêna vào ngày 20 tháng 7 để kính
nhớ cả ba nữ thánh từ mỗi câu chuyện Tin
Mừng đó. Riêng Giáo Hội Chính Thống Đông
Phương không nối kết ba vị thánh Maria này
nhưng luôn phân biệt khuôn mặt mỗi nữ thánh.
Giáo Hội Chính Thống rất tôn kính thánh nữ
Maria Mađalêna và gọi người là ‘phụ nữ mang
b́nh dầu thơm’ và người ‘tông đồ’. Như thế,
khi Dan Brown nhắc đi nhắc lại truyền thống
Kitô giáo đă đẩy Maria Mađalêna ra ngoài lề,
coi nàng như quỷ ma, tô vẽ nàng ra một cô
gái lăng loàng, một cô điếm, mong giảm bớt
tầm quan trọng của người phụ nữ này là vô
lư, vô bằng. Có thể nói Kitô giáo cả bên
Đông, bên Tây đều tôn trọng Maria Mađalêna
như một nữ thánh.
III. VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN TRONG GIÁO HỘI VÀ TÀI
LIỆU CỦA PHÁI NGỘ ĐẠO CUỐI THẾ KỶ THỨ HAI
Thực tế các sách Tân Ước đă ra đời trước năm
70, c̣n các Tin Mừng Ngộ Đạo đào được tại
Nag Hammadi sớm nhất cũng khoảng năm 150 hay
trễ hơn, vào thời điểm chủ thuyết Ngộ Đạo đă
phát triển thành hệ thống. Niên biểu này đă
được chấp nhận với Tin Mừng Philipphê, Tin
Mừng đă cho Đức Giêsu và Maria Mađalêna hôn
môi nhau. Riêng Tin Mừng Maria lại công bố
vai tṛ lănh đạo của Maria Mađalêna. Mật Mă
Da Vinci đă vẽ ra huyền thoại Chén Thánh một
phần được cảm hứng từ hai Tin Mừng này. Tuy
nhiên Dan Brown lại mập mờ đánh lận niên
biểu của các Tin Mừng Ngộ Đạo lên trước Các
sách Tin Mừng Chính Lục.
Ở chương cuối, Mật Mă Da Vinci lại thêm tài
liệu Ngộ Đạo Marcion. Các sử gia gọi Marcion
là một Proto-Gnostic (tiền Ngộ Đạo). Tân Ước
đă cảnh giac “những ông thày giả hiệu” đang
tới, cũng là đề cập chung về loại tài liệu
Ngộ Đạo. Khi viết về cuộc quang lâm, Thánh
Phêrô khẳng định, “không phải chúng tôi dựa
theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo
léo nhưng v́ chúng tôi thấy tận mắt vẻ uy
phong lẫm liệt của Người (2Ph 1, 16).
“Chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo” hẳn
ám chỉ những tài liệu Ngộ Đạo.
Vào tháng 12, 1945, gần thành phố Ai cập,
Nag Hammadi một người nhà quê bắt gặp một số
những cuộn da văn bản. Những bản văn này có
niên biểu thế kỷ thứ tư, gồm những bài thơ,
chuyện thần thoại, thần bí và những văn bản
khác được các học giả gọi là “tin mừng bí
ẩn”. Những tin mừng bí ẩn gồm: Tin Mừng
Tôma, Tin Mừng Philipphê, Tin Mừng Chân Lư,
Tin Mừng cho dân Ai Cập, Khải Huyền của
Thánh Phêrô, Khải Huyền của Thánh Phaolô,
Thư Thánh Phêrô gửi Thánh Philipphê, Tia
chớp - Trí Tuệ Tuyệt Hảo, Chứng Từ Của Chân
Lư. Chủ thuyết Ngộ Đạo là chủ trương t́m
hiểu biết Thiên Chúa... linh hồn và vũ trụ
bằng cảm nhận thực nghiệm trực tiếp. Ngộ Đạo
thuyết lớn lên trong những thế kỷ đầu, đón
nhận những dạng thức đức tin Kitô giáo nhưng
phủ nhận phần lớn đức tin Kitô Giáo (Duncan
Greenlees, The Gospels of the Gnostics). Nói
chung Marcion cũng như 51 bản văn Ngộ Đạo
khác được đào thấy ở Nag Hammandi đều phủ
nhận cuộc sáng tạo của Thiên Chúa. Tất cả
đều coi thường các loài thụ tạo, đặc biệt rẻ
rúng sự phân định phái tính, hôn nhân và
t́nh mẫu tử. Tài liệu Ngộ Đạo từ chối mọi
thứ luật lệ, không tin có tội lỗi và nhận
định con rắn ở vườn Diệu Quang đă lên lời
khôn ngoan. Các tài liệu không tin Chúa
Giêsu giải thoát chúng ta khỏi tội nhưng tin
Chúa giải thoát loài người khỏi u mê trí tuệ
và mang lại ơn giác ngộ.
Có thể xác định, những tài liệu Ngộ Đạo và
Thánh Kinh chính lục không thể phát triển
song song nhau như Mật Mă Da Vinci chủ
trương. Sứ điệp thứ nhất của các Kitô hữu
nhận từ Chúa Giêsu và các Tông Đồ được đón
nhận rộng răi và được soạn thảo do thế hệ
đầu tiên. Sau đó xuất hiện những sứ điệp
chống đối từ phía những người từ bỏ đức tin
hoặc những người bất măn với Giáo Hội. Đó là
những tài liệu Ngộ Đạo. Có thể nói Mật Mă Da
Vinci đă vét cạn những điểm ngang trái từ
các Tin Mừng Ngộ đạo như Teabing dựa vào Tin
Mừng Philipphê để phóng lời kết án Giáo Hội
đă và đang dập vùi thân phận phụ nữ. Ông sử
gia qủa quyết: “Như tôi đă nói trước đây,
cuộc hôn nhân giữa Đức Giêsu và Maria
Mađalêna là một phần ghi nhận của lịch sử”.
Hơn nữa, Đức Giêsu, với tư cách là một người
đàn ông có vợ có ư nghĩa hơn vô vàn chuẩn
mực của Thánh Kinh về Đức Giêsu, một người
độc thân (245). Ở đây người ta trưng dẫn Tin
Mừng Philipphê: “...Và người bạn đường của
Chúa Cứu Thế là Maria Mađalêna. Đức Kitô đă
yêu nàng hơn các môn đệ khác, Người thường
hôn nàng và hay hôn môi nàng. Các môn đệ
khác thấy bị xúc phạm và đă bày tỏ thái độ
bất b́nh. Anh em nói với Thày, Tại sao Thày
yêu cô này hơn tất cả chúng tôi” (248). Và
theo Teabing hai người đă có con với nhau”.
Dan Brown c̣n tung ra những con số tưởng
tượng mong minh hoạ: Giáo Hội phớt lờ nữ
quyền và nh́n phụ nữ như quỉ ma. Langdon mô
tả cuộc kỳ thị tàn nhẫn: “Trong 300 năm săn
lùng ‘phù thuỷ’, Giáo Hội đă thiêu sống trên
dàn thiêu 5 triệu phụ nữ.
“Hội Kín Sion tin rằng, Constantinô và những
người đàn ông kế tục đă thành công biến cải
thế giới lương dân mẫu hệ thành Kitô giáo
phụ hệ do tiến hành một chiến dịch bôi lọ
người nữ thánh thiêng thành quỉ ma và vĩnh
viễn xoá bỏ các nữ thần khỏi tín ngưỡng hiện
đại”...
Cuối cùng nhân danh các Tin Mừng Ngộ Đạo,
Dan Brown giới thiệu Đức Giêsu nổi bật là
nhà hoạt động đầu tiên cho nữ quyền: Teabing
nói: “Theo những bản văn Tin Mừng chưa bị
sửa đổi, không phải Phêrô được Đức Giêsu chỉ
thị lập Giáo Hội Kitô giáo nhưng là Maria
Mađalêna”. Đức Giêsu là nhà hoạt động đầu
tiên cho nữ quyền. Ngài tính, tương lai Giáo
Hội sẽ được đặt vào tay Maria Madalêna”.
Nhưng Mật Mă Da Vinci đă bị ‘gậy ông đập
lưng ông’ trong vấn đề nữ quyền: Mật Mă Da
Vinci muốn chúng ta tin, Tin Mừng Ngộ Đạo
ủng hộ phụ nữ nơi đâu, Tân Ước hạ thấp phụ
nữ nhưng đoạn văn này của Tin Mừng Ngộ Đạo
Tôma đă tố cáo Mật Mă Da Vinci ăn gian bằng
chứng. “Simon Phêrô nói với họ: Hăy để cho
Maria (có lẽ là Maria Mađalêna) rời bỏ chúng
tôi, v́ phụ nữ không đáng sống”. Chúa Giêsu
nói, chính ta sẽ dẫn dắt nàng để biến nàng
thành đàn ông, như thế nàng cũng có thể trở
thành loài có thần sống, giống với đàn ông
các anh. Những phụ nữ biến ḿnh thành đàn
ông sẽ được vào Nước Trời” (‘Tin Mừng Toma’,
lời 14).
IV. VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN TRONG THÁNH KINH
Ở Đông Phương thời trước người phụ nữ mang
thân phận thấp kém và rẻ rúng, ‘nhất nam
viết hữu, thập nữ viết vô’ nên phụ nữ ở nhà
hay ngoài xă hội chẳng bao giờ dám ngẩng mặt
nh́n trời, nh́n người v́ lúc nào cũng ṭng,
cũng ‘phụ’ cho ai đó, ‘tại gia ṭng phụ,
xuất giá ṭng phu, phu tử ṭng tử’. Ở Tây
phương, trước khi phụ nữ là ‘Lady first’,
phụ nữ đă bị coi là “con người dở dang”
(homme manqué, theo lối nh́n của Aristote).
A. Trong Cựu Ước
Ở Do Thái, người phụ nữ được gọi là ’issâh,
con người nữ phái. Nàng được Thiên Chúa rút
ra từ người đàn ông đầu tiên và được tạo
dựng. Nghĩa là nữ phái mang bản chất tương
hợp với nam phái nhưng có phẩm cách độc đáo
(St 2, 21- 24). Đúng là lối nh́n Việt Nam
rất ứng với sách Sáng Thế: “Ḿnh với ta tuy
hai mà một, ta với ḿnh tuy một mà hai’ hay
nói kiểu tượng h́nh của Thánh Phaolô: ‘Người
đàn ông sẽ ĺa cha mẹ và gắn bó với vợ ḿnh
và cả hai sẽ thành một xương, một thịt’ (Eph
5, 31). Thời Cựu Ước, danh hiệu ‘Thiếu Nữ
Sion’ là biểu tượng cho Dân Chúa Chọn. Người
phụ nữ thuở ấy cũng đă nhận những tước hiệu
cao quư trong hai tŕnh thuật về tạo dựng
của sách Sáng Thế và trong Tân Ước, tŕnh
thuật của Phaolô, 1 Cor 11,7 đúng là tiếng
vọng lại của hai tŕnh thuật trên. Theo đó,
cùng là h́nh ảnh của Thiên Chúa, nữ phái
b́nh đẳng với nam phái về bản chất và phẩm
cách nhưng lại thấp hơn nam phái về vai tṛ.
Nàng là “người trợ giúp xứng hợp cho chàng”
(St 2, 18), c̣n chàng là người “điều binh
khiển tướng trên đời nàng” (St 3, 16).
Giữa xă hội
Nhiều phụ nữ đă đảm trách những sứ mạng của
toàn dân như Nữ tiên tri Hulda làm tham vấn
cho các cận thần của vua (2V 22, 14tt).
Đêbora từng là tiên tri và quan án trong dân
Israel (Tl 4, 4tt; 5). Juđit và Este được
dân chúng trân trọng như hai nữ anh hùng dân
tộc đă cứu thoát dân. Sách Châm Ngôn 31 đă
ca tụng những phụ nữ cao trọng, tán thưởng
những người mẹ, người vợ đảm đang, rộng
lượng mang lại hạnh phúc tràn đầy cho chồng
con. Trong Cựu Ước thỉnh thoảng cũng xuất
hiện những tŕnh thuật tŕnh bày về t́nh
thân trong cộng đoàn gia đ́nh, chứng tỏ
người phụ nữ được chồng yêu thương, lắng
nghe và ứng xử b́nh đẳng (1S, 4- 8. 22; 2V
4, 8- 24). Người chồng khen nàng, là nội
tướng đảm đang và những người khôn ngoan
chúc mừng nàng (Kn 31, 10- 31; Hc 26, 1- 4.
3- 18).
Về pháp lư
Theo luật pháp thân phận phụ nữ thấp hèn và
lệ thuộc. Nàng gọi chồng là ‘Thày’ hay ‘Chủ’
(St, 12; Tl 19, 26; Am 4, 1) và c̣n bị coi
như một trong những món sở hữu của chồng (Xh
20, 17; Đnl 5, 21). Người chồng có thể la
mắng vợ, c̣n nàng chẳng được thừa hưởng gia
sản ǵ của chồng, và cũng chẳng được di sản
từ cha trừ khi người đàn ông hợp pháp nhận
di sản vắng mặt (Ds 27, 8). Quyền hợp pháp
của người vợ góa sẽ tùy người cha hay chồng
thừa nhận hay phủ nhận (Ds 30, 4- 17). Theo
Luật Maisen phụ nữ gần như một nô lệ và có
thể bị chồng đuổi đi. Phụ nữ phải giữ nghi
thức thanh tẩy đặc biệt (Lv 15, 19, 25; 12,
2- 3). Trong trường hợp nghi ngờ, ‘nước của
ḷng ghen tương’ sẽ chống lại nàng. Sự thất
tiết bị phạt tử h́nh. Thánh Phaolô từng cấm
phụ nữ lên tiếng giữa cộng đoàn Phụng vụ
(1Cor 14, 33b-36).
Nơi tôn giáo
Ở Do Thái cổ thời, cũng như nơi những vùng
khác ở Cận Đông, trong lănh vực tôn giáo vai
tṛ người phụ nữ tuy khá giới hạn nhưng
nhiều phụ nữ đă đảm nhận vai tṛ nữ tiên tri
như Miryam (Xh 15, 20tt; Ds 12, 1-2; Mi
6,4), Đêbora (Tl 4, 4), Hulda (2 V 22, 14tt)
Noađia (Ne 6,14) và cũng có những tiên tri
vô danh. Ở một số tôn giáo Cận Đông, nhiều
phụ nữ c̣n phải nhận làm điếm thần, một
nhiệm vụ tôn giáo nên Đệ Nhị Luật (23, 18)
có luật cấm các cô gái, không được làm điếm
thần (nơi đền thờ các vị thần ngoại lai).
B. Trong Tân Ước
Tới thời Tân Ước, vẫn c̣n hiện diện vị nữ
tiên tri Anna nhà Phanuel nơi đền thờ trong
lễ Dâng Con của Thánh Giuse và Đức Mẹ (Lc 2,
36). Vị nữ tiên tri này được soi sáng để
nhận ra Chúa Cứu Thế ấu thơ.
Vào Tân Ước, người phụ nữ được trân trọng
nh́n nhận phẩm cách, được cộng tác vào công
tŕnh loan Tin Mừng và được trao phó những
sứ vụ cao cả. Ga 4, 17-26 kể về một phụ nữ
b́nh thường như mọi phụ nữ khác, nàng c̣n
tai tiếng nữa, v́ đă năm lần ly dị hiện đang
chung sống với một người bạn trai. Nàng c̣n
là một người Samaritanô khác đạo. Chúa đă
vượt qua cả nề nếp phong tục Do Thái hồi đó
về ranh giới sắc tộc và đạo giáo để chia sẻ
với nàng lời công bố đầu tiên: Người là Đấng
Messia. Đàng khác Trong Lc 8, 1-3, ngược với
phong tục thời ấy, Chúa Giêsu đă đón nhận
một nhóm các phụ nữ đi theo Chúa và các môn
đệ để phục vụ và trợ giúp về tiền bạc. Tân
Ươc đă mạnh mẽ khẳng định phẩm giá và ơn gọi
phụ nữ qua sự kiện một phụ nữ đi loan báo
tin vui vô cùng lớn lao, tin vui Chúa Phục
Sinh cho cả Giáo Hội, sự kiện được cả ba Tin
Mừng Nhất Lăm tường thuật (Mt 28, 1; Mc 16,
1; Lc 24, 10). Với Thánh Phaolô, vị Tông Đồ
từng nhấn mạnh đặc tính “phu xướng phụ tùy”
(1 Cor 11, 7- 12): “Người nam không được che
đầu v́ là h́nh ảnh và vinh quang của Thiên
Chúa; c̣n người nữ là vinh quang của người
nam”. Chính Phaolô đă mạnh mẽ tuyên bố,
“Không c̣n chuyện phân biệt Do Thái hay Hy
Lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ, nhưng tất
cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô (Gal. 3,
28). Thánh Phaolô c̣n nhắn nhủ những người
chồng, “Hỡi những người chồng, hăy yêu
thương vợ như chính Đức Kitô yêu thương Hội
Thánh và hiến ḿnh v́ Hội Thánh” (Ep. 5,
25).
Cuối cùng chúng ta không thể quên Mẹ Maria,
người Phụ Nữ được chọn để đối đầu với con
rắn tại Vườn Diệu Quang, “Ta sẽ gây mối thù
giữa mi và người Phụ Nữ, giữa ḍng giống mi
và ḍng giống người Phụ Nữ; ḍng giống ấy sẽ
đánh vào đầu mi và ŕnh mi sẽ cắn gót chân
người”(St 3, 15). Người Phụ Nữ sáng chói này
chính là Mẹ Maria, một người con trinh trong
của Thiên Chúa. Chính Mẹ đă được Thiên Chúa
mời gọi để thay mặt cho cả nhân loại đón
nhận Chúa Cứu Thế vào cung ḷng ḿnh và trao
Chúa Giêsu cho chúng ta.
V. NỮ QUYỀN TRONG GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI
Nữ Quyền là vấn đề tương đối mới. Trước
Vatican II, Đức Gioan XXIII đă thấp thoáng
đề cập trong thông điệp ‘Hoà B́nh Trên Trái
Đất’ Riêng Vatican II khi tŕnh bày những
vấn đề lớn về phẩm cách, nhân vị của con
người, tương giao xă hội trong Hiến chế Mục
Vụ Giáo Hội Trong Thế giới Ngày nay và Sắc
lệnh Tông Đồ Giáo Dân, Công Đồng đă ‘cho quá
giang’ vấn đề nữ quyền. Nhưng vấn đề c̣n ở
giai đoạn chẩn đoán căn bệnh thời đại chưa
tập trung thành một hướng dẫn hệ thống. Ở
đây, với đôi ḍng lược ghi giáo huấn của
Giáo Hội về nữ quyền chúng ta đi t́m những
điểm tựa từ Vatican II và đặc biệt chú ư
Tông huấn ‘Phẩm Giá Phụ Nữ’ do Đức Thánh Cha
Gioan Phaolô II ban hành 18 năm trước đây.
A. Vatican II
Hiến chế Mục Vụ Giáo Hội Trong Thế giới Ngày
Nay nhắc nhớ: Thiên Chúa muốn mọi người làm
thành một gia đ́nh và đối xử với nhau bằng
t́nh huynh đệ (GS số 8). Nhưng trước một xă
hội đang có những mâu thuẫn gia đ́nh do
những tương giao xă hội mới giữa nam và nữ,
Vatican II nhận định, “Ở đâu nữ giới chưa
được b́nh quyền với nam giới, họ đều đứng
lên đ̣i hỏi cho ḿnh được b́nh đẳng trước
pháp lư và thực tế” (GS số 9). Tiếp theo, ở
số 60, Hiến chế Mục Vụ Giáo Hội Trong Thế
giới Ngày Nay khẳng định không được phân
biệt nam nữ, mọi người đều được hưởng nhận
văn hoá, điều phù hợp với phẩm giá con
người. Trong sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân, Công
Đồng lạc quan nhận ra, nữ giới ngày càng
đóng góp xây dựng các lănh vực xă hội, nên
cần giúp họ tham gia công tác tông đồ giáo
dân (LG số 9).
B. Tông Huấn ‘Phẩm Giá Phụ Nữ’
Đức Maria, người mẫu của phụ nữ
Khởi đi từ biến cố Truyền Tin, Tông Huấn
thấy Đức Mẹ hiện diện ngay tại trung tâm của
biến cố cứu độ qua cuộc Truyền Tin tại
Nazaret và Tông Huấn nh́n Mẹ Maria như người
mẫu của các phụ nữ. Với lời “Xin Vâng” Đức
Mẹ đă cưu mang người con và người con này là
Con Thiên Chúa, đồng bản thể với Đức Chúa
Cha và Người mẫu của phụ nữ cũng là Mẹ thật
của Thiên Chúa (4). Sau Vatican II Đức
Phaolô VI trong lễ tuyên phong tiến sĩ cho
hai nữ thánh Terêsa Avila và Catarina Sienna
đă nhấn mạnh vấn đề nữ quyền như một ‘dấu
chỉ thời đại’. Ngài cũng thành lập trong
Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1974 một uỷ ban
nghiên cứu về phẩm giá và trách nhiệm phụ
nữ.
Phụ nữ là h́nh ảnh Thiên Chúa và giống Thiên
Chúa
Thiên Chúa tạo dựng con người có nam, có nữ.
Họ được dựng theo h́nh ảnh Thiên Chúa và
giống Thiên Chúa (St 1,27). V́ là h́nh ảnh
Thiên Chúa và giống Thiên Chúa nên con người
là một ngôi vị, người nam và người nữ đều là
ngôi vị như nhau. Khi tạo dựng con người,
Thiên Chúa muốn, “Ta sẽ làm cho nó một trợ
tá tương hợp với nó” (St 1, 18-25). Nói
khác, nam nữ không chỉ sống bên nhau, sống
chung với nhau mà c̣n sống cho nhau, sống hỗ
tương nhau, sống liên vị. Họ, cả nam và nữ
đều là tạo vật duy nhất ở trần thế được
Thiên Chúa dựng nên cho chính họ. Đồng thời
tạo vật ‘duy nhất đó’ chỉ có thể gặp lại
chính bản thân ḿnh nhờ thành thực cống hiến
chính ḿnh cho nhau (10).
Phụ nữ được tạo dựng từ “xương sườn của
người nam”(St 2, 23)
Người nữ được tạo dựng từ “xương sườn của
người nam”. Nghĩa là theo ngôn ngữ Kinh
Thánh căn tính của người nữ thiết yếu tương
quan với người nam (Ish – Isha): Nàng sẽ
được gọi là đàn bà (Isha) v́ đă được rút từ
đàn ông (Ish) (St 2, 23).
Phụ Nữ và Nữ quyền
Thời đại này vấn đề ‘nữ quyền’ đă có những ư
nghĩa mới mẻ trong bối cảnh rộng răi về các
quyền của con người. Soi sáng cho vấn đề này
là luôn công bố và nhắc lại bằng nhiều h́nh
thức, sứ điệp Kinh Thánh và Tin Mừng để bảo
tồn chân lư và sự ‘hiệp nhất giữa hai
người’. Đó là chân lư về phẩm giá và ơn gọi
phát xuất từ sự khác biệt và tính chất ngôi
vị riêng biệt của người nam và người nữ. V́
thế khi phụ nữ đ̣i nữ quyền chính đáng họ
không thể bị ‘nam hoá’, dù với bất cứ lư do
ǵ. Người nữ không nên nhân danh cuộc giải
thoát khỏi, ‘sự thống trị của người nam’ (St
3, 16) để dành lấy những đặc tính của người
nam, gây nguy hại cho nữ tính của ḿnh...
Trong tŕnh thuật của Kinh Thánh, tiếng reo
ḥ của Ađam khi nh́n thấy người phụ nữ vừa
được sáng tạo là tiếng reo ḥ thán phục và
say đắm, tiếng reo mừng được vang lên suốt
lịch sử của con người trên trái đất ( số
11).
Những tài năng cá nhân của nữ phái chắc chắn
không kém những tài năng của phái nam, tuy
mỗi bên mỗi khác. V́ thế người nữ cũng như
người nam phải nhận ra sự triển nở cá vị,
nhận ra phẩm giá và ơn gọi của ḿnh dựa trên
những tài năng riêng, tuỳ theo nữ tính phong
phú mà họ đă nhận khi được sáng tạo, và thừa
hưởng như một diễn tả về việc ‘là h́nh ảnh
Chúa và giống Thiên Chúa’.
Đức Giêsu nói chuyện với phụ nữ
Trên bước đường sứ vụ của Đức Giêsu, đă xuất
hiện một số khuôn mặt phụ nữ, và thái độ của
Người đối với từng người, đă làm nổi bật một
‘nếp sống mới’ thấm nhuần tinh thần Tin
Mừng. Tất cả mọi người, kể cả những ai có
thái độ phê phán sứ điệp của Đức Kitô, đều
nh́n nhận, trước mắt những người đồng thời,
Đức Kitô đă là người bênh vực phẩm giá đích
thực của người phụ nữ, cũng như ơn gọi gắn
liền với phẩm giá đó. Thái độ đó đôi khi gây
thán phục và kinh ngạc nhưng cũng thường gây
vấp phạm: “Họ ngạc nhiên v́ thấy người nói
chuyện với một phụ nữ” (Ga 4, 27), v́ đó là
một thái độ xa lạ với người đương thời. Cả
đến môn đệ của Đức Kitô cũng ngạc nhiên, khi
thấy người phụ nữ vào nhà và xức dầu thơm
trên chân Đức Giêsu. Người Biệt Phái chủ nhà
nghĩ bụng, “Nếu quả thật ông này là tiên
tri, th́ hẳn biết người đàn bà đang đụng vào
ḿnh là ai, là một người tội lỗi” (Lc 7,
39). Những thính giả tự măn lại càng cảm
thấy bực tức và có khi c̣n tỏ ra thái độ
‘phẫn nộ thánh thiện’ khi nghe Đức Kitô nói,
“Những người thu thuế, những cô gái điếm sẽ
vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21,
31). Những lời nói và cách ứng xử như thế
chứng tỏ Đức Giêsu hoàn toàn thấu hiểu những
bí mật của mầu nhiệm Nước Trời (số 12).
Đức Giêsu không kỳ thị nữ phái
Toàn bộ giáo huấn của sứ điệp Đức Giêsu,
cũng như cách cư xử của Người không có ǵ tỏ
ra kỳ thị nữ giới. Ngược lại lời nói và hành
động của Người luôn tỏ ra kính trọng phụ nữ.
Người phụ nữ c̣ng lưng được gọi là ‘con cháu
Abraham’ (Lc 13, 16), trong khi cả Thánh
Kinh chỉ dành danh xưng đó cho phái nam.
Trên con đường thập giá hướng về Golgotha,
Đức Giêsu ngỏ lời với các phụ nữ: “Hỡi chị
em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi
làm ǵ” (Lc 23, 28). Phong cách Đức Giêsu
nói về và nói với cũng như cách cư xử với họ
rơ ràng là mới mẻ đối với phong tục tập quán
thời đó. Thái độ này càng hiển nhiên hơn với
nhưng phụ nữ bị dư luận khinh miệt, coi như
những người tội lỗi, người mắc tội công khai
và người ngoại t́nh. Chẳng hạn Đức Giêsu nói
với người phụ nữ Samaria, “Đúng là chị đă
năm đời chồng và người đang sống với chị
không phải là chồng chị”. Khi nhận thấy Đức
Giêsu biết rơ những bí mật của đời ḿnh,
người phụ nữ đă thấy ra, Người là Đấng Thiên
Sai và chạy ngay về thông báo cho cả làng
biết. Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và
người phụ nữ Samaria là một trong những mẫu
đối thoại đẹp nhất Tin Mừng (x Ga 4, 7-27).
Một phụ nữ khác rất tai tiếng, dù bị dư luận
rẻ rúng, nàng đă vào nhà một ông Biệt Phái
xức dầu thơm lên chân Chúa Giêsu. Thấy ông
chủ nhà tỏ vẻ khó chịu, Chúa đă nói: “chị
này nhiều tội nhưng chị đă được tha v́ chị
đă yêu mến nhiều” (x Lc 7, 37-47). Có thể
nói, qua thái độ của Chúa Giêsu chúng ta
nhận ra, phụ nữ cũng là tạo vật duy nhất
trên mặt đất, Thiên Chúa đă muốn sáng tạo họ
v́ chính họ (số 13).
C. Thông Điệp Giáo Hội Sống Nhờ Thánh Thể
(EdE)
Trong Thông điệp Giáo Hội Sống Nhờ Thánh Thể
(EdE) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II lại thấy
Mẹ Maria là Người Nữ Thánh Thể: “Khi Đức
Maria hát vang: ‘Linh hồn tôi ngợi khen Đức
Chúa và ḷng trí tôi nhảy mừng trong Thiên
Chúa Đấng cứu độ tôi’, Chúa Giêsu đang trong
cung ḷng của Mẹ, Mẹ ngợi khen Chúa Cha thay
cho Chúa Giêsu, nhưng Mẹ cũng ngợi khen Chúa
Cha trong Chúa Giêsu và cùng với Chúa Giêsu.
Đó chính là thái độ Thánh Thể đích thực”
(EdE. 58).
VI. VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN QUA VÀI NHẬN ĐỊNH THỰC
TẾ
A. Steven Goldberg
Steven Goldberg, Trưởng khoa xă hội học tại
Đại Học Tiểu Bang New York đă viết: “Tôi xác
quyết, phụ hệ là phổ quát và chưa bao giờ có
mẫu hệ. Trong bất cứ xă hội nào, quyền bính
và quyền lănh đạo trong gia đ́nh đều liên
kết với người đàn ông... Chúng tôi đă nghiên
cứu từng trăm xă hội ở thế kỷ này, không có
ngoại lệ, tất cả đều theo phụ hệ. Chúng tôi
không có lư do tin rằng đă từng hiện hữu
những xă hội do phụ nữ điều khiển” [Theo
Giáo sư Nghiêm Thẩm (Đại Học Văn Khoa Sài
G̣n trước năm 1975), tất cả những chế độ mẫu
hệ của những sắc dân thiểu số tại vùng cao
nguyên Việt Nam đều là “mẫu hệ giả”. Thực sự
quyền bính trong gia đ́nh không hẳn thuộc
người vợ nhưng thực tế thuộc người anh hay
em vợ].
B. Nhờ nền văn minh Kitô Giáo nữ quyền được
nh́n nhận
Thực tế trong thế giới lương dân cổ xưa phụ
nữ đă không được nh́n nhận và ứng xử như
Langdon lầm tưởng. Thực tế, trong tầm ảnh
hưởng, Kitô giáo đă làm chuyển biến lớn lao
về phẩm cách và ơn gọi phụ nữ. Trước khi
Chúa Kitô đến, nơi thế giới lương dân, cuộc
đời phụ nữ đă được nh́n với ánh nh́n rẻ
rúng. Tại Hy Lạp, Ấn độ và Trung Hoa phụ nữ
không có chút quyền hành và bị coi như một
món sở hữu của người chồng. Các triết gia
thuở ấy cũng chẳng coi trọng phụ nữ hơn
những người dân ngoài Kitô giáo khác.
Aristote đă coi đẳng cấp phụ nữ nằm giữa đàn
ông và giới nô lệ. Platon nói, người đàn ông
nào sống cuộc sống nhút nhát, anh ta nên tái
đầu thai làm phụ nữ.
Tại Hy lạp cổ, người vợ không được phép rời
nhà nếu không có người đi kèm. Nàng không
được ăn uống, giao dịch với khách tại nhà.
Một phụ nữ Athen có vị thế xă hội không hơn
một nô lệ. Phụ nữ không được học hành và
không được phát ngôn nơi công cộng. Lặng
thinh được coi là duyên dáng của phụ nữ, kể
cả ở nhà. Kitô giáo đến đă chuyển biến triệt
để thân phận phụ nữ. Chính các học giả lương
dân Rôma cổ thời cũng coi đó là khúc quanh
cho quyền tự do và phẩm cách phụ nữ. Xưa
cũng như nay, ở đâu Kitô giáo vào cuộc là
phụ nữ được nâng cao. Trong giới lương dân
Trung Hoa, nạn phá thai để chọn phái tính
rất phổ biến hồi 1880 khi các Thừa Sai Kitô
giáo chưa tới. Các trẻ em nữ bị coi như ‘của
nợ’. Trong hai thế kỷ vừa qua do ảnh hưởng
của Kitô giáo, thái độ ứng xử với phụ nữ
toàn thế giới đă thăng tiến rơ rệt. Kitô
giáo đă giúp phụ nữ Trung Hoa bỏ lệ bó chân
(cho mảnh mai, hấp dẫn). Nhiều trường hợp
gây biến chứng rất nguy hiểm, và có thể tử
vong.
Tại An Độ, tục lệ suttee của người Hindu:
khi chồng chết vợ cũng bị chôn táng theo
chồng, nhờ Kitô giáo đă chấm dứt. Những “Bà
Goá Trẻ Con” trong nề nếp văn hoá lương dân
Hindu thờ nữ thần. Các cô gái này được dâng
làm điếm thánh trong đền thờ. Amy
Carmichael, một tín hữu Kitô giáo đă đấu
tranh để chấm dứt hủ tục này và giải cứu
được các cô.
VI. ĐÔI D̉NG KẾT
Ai đó có thể tuỳ tiện đem một bông hồng tươi
thắm nhúng chàm và hí hửng chỉ cho bạn bè
thấy một ‘bông hồng đen’ không là chuyện mới
mẻ. Trước Mật Mă Da Vinci từng có The Last
Temptation với nhân vật Giêsu c̣n đen đủi,
hắc ám hơn nhiều. Và xung quanh The Last
Temptation cũng không thiếu những nhân vật
Giêsu trong Giao Điểm, trong Tây Dương Giatô
Bí Lục với khuôn mặt c̣n gớm ghiếc nữa.
Chuyện nhúng chàm Chúa Giêsu và bôi lọ Giáo
Hội là chuyện người ta, những người không
chia sẻ Đức tin với chúng ta. Nhưng không
phải v́ Chúa bị nhúng chàm mà Chúa thành
chàm và không phải v́ bị bôi lọ mà Giáo Hội
ra lọ lem. Cũng chẳng v́ Dan Brown giấu mặt
mà anh không sợ mất mặt. Đáng tiếc là anh
chẳng bao giờ biết biển nên chê biển hẹp,
chẳng bao giờ anh tin nên chẳng xót xa khi
ḷng nguội lạnh. Đọc anh, xem anh chúng tôi
cứ tiếc có lần nào anh t́m ra đứng trước
biển xem người muối đi t́m mẹ, nghe người
muối ới ời mẹ. Một ngày nào đó trong đời
anh, một buổi mai, buổi hôm nào đó trong đời
anh.
Chẳng ai ngờ người muối là con ruột của biển
khơi. Người muối suốt ngày gọi mẹ, t́m mẹ:
“Biển khơi ới ời, mẹ ở đâu mà con t́m hoài
chẳng thấy? Mẹ ới ời, mẹ là ai sao con chẳng
biết. Mẹ ới ời, mẹ cao hay thấp, bao la hay
hẹp ḥi sao con lường chẳng nổi.
Biển khơi nghe con gọi sốt cả ruột không
thôi dâng nước làm sóng, sóng vỗ miên man,
như tiếng mẹ gọi t́m con. Rồi một ngày nắng
đẹp, người muối chẳng ngờ ḿnh đứng ngay
trước biển, và nghe rơ qua tiếng sóng vỗ
giọng mẹ nhủ con:
“Người muối ơi, con của mẹ, muốn hiểu mẹ con
phải bước tới. Bước tới nữa.
“Sao con vẫn chưa thấy mẹ?
“Con bước thêm nữa.
“Con chỉ gặp sóng và nước và đôi chân con
bắt đầu bị biển ăn ṃn.
“Con bước tới nữa.
“Thân con bắt đầu bị nước hoà tan.
“Người muối con ơi, con muốn hiểu biển, con
phải hoà tan trong ḷng biển mới hiểu mẹ
mặn, mới thấy mẹ bao la!
|