HIỆP THÔNG

Bản Tin của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

Chủ nhiệm:

Gm. Nguyễn Soạn.

Trách nhiệm thực hiện:

Ủy Ban Văn Hóa HĐGMVN.

Đặc trách:

Gm. Vũ Duy Thống.

Tổng Thư Kư:

Lm. Trịnh Tín Ư.

 
 
 
 
 
 

__________________________________________________________________________

 

 

TỪ NỮ THẦN ĐẾN NỮ QUYỀN

TRONG TIỂU THUYẾT  “MẬT MĂ DA VINCI”

 

Linh Mục Giuse Trịnh Tín Ư

 

 

Tác giả Dan Brown tuyên bố, “Mật Mă Da Vinci chỉ là cuốn tiểu thuyết!”, Đă hẳn, tiểu thuyết là chuyện hư cấu nhưng bên kia những hư cấu, ai chẳng biết tác giả muốn gửi gắm những hậu ư xa gần. Ở đây Dan Brown như muốn đứng ngoài niềm tin để “soi sáng” cho các Kitô hữu về đức tin Công Giáo và muốn đứng trên Giáo Hội bẻ ḍng lịch sử của Giáo Hội. Nếu từ góc nh́n của những người không tin nói về nội dung đức tin sẽ chẳng có ǵ đáng nói. Nhưng nếu Dan Brown chỉ có đôi ba tài liệu mảnh vụn và một ít văn bản cổ thời giả lịch sử, đem vá đụp ngụy tạo cả lịch sử Giáo Hội, một lịch sử gắn liền với đức tin của các Kitô hữu, anh có thể bất công gây ra những ngộ nhận đáng tiếc. Chẳng hạn Dan Brown hay trưng dẫn The Templar Revelation và Holy Blood, Holy Grail (xb.1982) và coi như “tài liệu lịch sử” ch́a khoá cho Mật Mă Da Vinci, làm lối dẫn nhập vào tác phẩm khuôn mặt của nữ thần Maria Mađalêna, dẫn sang lư thuyết về nữ quyền và dẫn tới phong cách phóng khoáng, lăng mạn của nhân vật Giêsu và một nề nếp “ngục tu” của Giáo Hội. Trong một khuôn khổ bé nhỏ, chúng ta nhận mặt nữ thần Maria Mađalêna trong Mật Mă Da Vinci và t́m hiểu thánh nữ Maria Mađalêna trong Tin Mừng, trong lịch sử Giáo Hội. Cuối cùng là một thoáng nh́n chủ thuyết nữ quyền của Dan Brown dưới ánh sáng của Thánh Kinh và giáo huấn của Giáo Hội, đặc biệt Tông Thư Dignitatem Mulieris của Đức Gioan Phaolô II.

 

I. ‘NỮ THẦN MARIA MAĐALÊNA’ VÀ NHỮNG TÀI LIỆU SỬ DỤNG TRONG MẬT MĂ DA VINCI

 

A. Sự thực về tài liệu “Holy Blood, Holy Grail”

 

Dan Brown dựa vào tài liệu “Holy Blood, Holy Grail” xuất bản năm 1982 để viết về nữ thần Maria Mađalêna, về Hội Kín The Priory of Sion. Tác giả của “Holy Blood, Holy Grail lại dựa vào tài liệu của Plantard, một người Pháp dị ứng với dân Đông Á từng ngồi tù năm 1953 về tội buôn lậu. Năm 1954 Plantard và ba người khác bắt đầu thành lập một câu lạc bộ xă hội nho nhỏ mang tên một ngọn núi gần đó, Priory of Sion. Câu lạc bộ được thành lập để kêu gọi xây thêm nhiều nhà giá rẻ tại Pháp. Câu lạc bộ này đă biến mất năm 1957 nhưng Plantard vẫn c̣n giữ tên nó.

 

Suốt thập niên 1960 và 1970 Plantard đă tạo ra một loạt tài liệu chứng minh một ḍng huyết tộc vẫn tồn tại từ Maria Mađalêna xuống tới con cháu hôm nay nhờ những vị vua của nước Pháp. Trong số đó có có Pierre Plantard. Họ bắt đầu sử dựng tên Pierre Plantard de Saint Clair và nói Saint Clair là con cháu ḍng trực hệ của cặp vợ chồng Giêsu- Maria Mađalêna.

 

Năm 1933, tên của Plantard đă bị lộ tẩy trong một vụ x́ căn đan chính trị dính líu tới một người bạn thân của vị Tổng Thống Pháp, Francois Mitterand. Ở một trong những danh sách các tài liệu của Plantard về Priory of Sion, ông có ghi tên Roger Patrice Pelat như một vị Thày Lớn. Khi bị gọi ra làm chứng trước ṭa, Plantard bằng một lời thề, thừa nhận chính ḿnh đă tạo ra toàn bộ kế hoạch Priory. Toà ra lệnh truy t́m nơi ở của Plantard. Chính căn nhà này đă để lộ những tài liệu khác công bố Plantard là ông vua đích thực của nước Pháp. Quan toà đă nghiêm khắc cảnh cáo Plantard và thả về v́ ông là một gă khật khùng vô hại (Tổng hợp theo James L. Carlon, Peter Jones trong Cracking Da Vinci’s Code, Xb. 2004). Nếu quan toà hồi ấy biết được mức tác động rộng dài trong cuộc lừa đảo của Plantard, hẳn ông sẽ truyền huỷ bỏ những tài liệu Plantard đă đẻ ra. Thật đáng tiếc cuộc lừa đảo của Plantard đă bị Dan Brown lợi dụng đua hàng triệu độc giả sa vào mớ ‘tài liệu lịch sử’ quỉ quái của ông. Như thế nàng Mađalêna hoang đường của anh chàng khật khùng Plantard trong Holy Blood, Holy Grail đă biến thành Nữ Thần Maria Mađalêna, người phụ nữ ‘trâm anh thế phiệt’ của Mật Mă Da Vinci. và chuyện lường gạt trong Holy Blood, Holy Grail đă được tả như thật trong Mật Mă Da Vinci:

 

Chuyện đời của Maria Mađalêna kể vắn từ tiểu thuyết Mật Mă Da Vinci: nàng là dân Do Thái thuộc bộ tộc Benjamin, là vợ của Đức Giêsu và sinh được người con gái là Sarah. Đức Giêsu muốn trao Giáo Hội trong tay nàng. Bụng dạ nàng chính là “Chén Thánh (Holy Grail)” ǵn giữ lấy giọt máu, cốt cách của Đức Giêsu. Hài cốt của nàng vẫn c̣n bên dưới lối vào của toà nhà kim tự tháp bằng kiếng thuộc viện bảo tàng Louvre. Hội kín The Priory of Sion và Knights Templar t́nh nguyện bảo vệ chuyện đời và các di tích của nàng. Priory đă tôn thờ nàng như “Nữ Thần” và như “Người Mẹ Thần Thánh” của họ.

 

“Sử gia” Teabing của Mật Mă Da Vinci kể, “Theo Hội Kín Priory, Maria Mađalêna mang thai vào thời điểm Chúa bị đóng đinh. V́ muốn giữ an toàn cho đứa con chưa chào đời của Đức Kitô, nàng không c̣n chọn lựa nào khác hơn là trốn khỏi Đất Thánh. Được người cậu đáng tín nhiệm của Đức Giêsu là Giuse Arimathêa, bí mật đưa qua Pháp và được mọi người biết với tên gọi là Gaul. Tại đây Maria Mađalêna ẩn náu trong cộng đồng người Do Thái với con gái, Sarah.

 

“Cuộc đời hai mẹ con đă được những người Do Thái bảo vệ và được ghi chép rất cặn kẽ. Đừng quên, đứa con của nàng thuộc ḍng dơi các vua chúa Do Thái, Đavid và Salomon. Do đó dân Do Thái ở Pháp đă coi Maria Mađalêna thuộc hoàng gia thánh thiêng và tôn kính nàng như tổ tiên của một ḍng máu hoàng tộc...”

 

B. Tài liệu của Margaret Starbird

 

Margaret Starbird là tác giả của các tác phẩm The Templar Revelation; The Sacred Feminine; Maria Mađalêna, The Beloved; The Goddess in the Gospels, The Woman With The Alabaster Jar. Tác giả này chuyên sử dụng khoa số học biểu tượng (numerology), một ngành rất gần với bói toán và tử vi (?). Chẳng hiểu bà phù phép thế nào với những con số trong tên gọi và kết luận Maria Mađalêna được tôn kính như một nữ thần trong Kitô giáo thuở ban đầu:

 

“Họ hiểu ‘thần học về con số’ trong thế giới Hy Lạp, những con số đă mă hoá trong Tân Ước dựa vào kinh bộ cũ của khoa số học thánh thiêng, bắt nguồn từ các môn đệ Pythagore vào những thế kỷ trước... Đó không phải ngẫu nhiên mà dung từ (epithet) của ‘Mary Magdelene’ đă mang những con số để những người có học biết của thời đại đó nhận ra nàng là “Nữ Thần trong các Tin Mừng”(trích từ sách Maria Mađalêna: ‘Người Được Yêu do tác giả Margaret Starbird (Tổng hợp theo James L. Carlon, Peter Jones trong Cracking Da Vinci’s Code, Xb. 2004 và De-Code Da Vinci của Amy Welborn. Xb. Our Sunday Visitor, Inc.)

 

Theo lập luận của Dan Brown, các tín hữu thuở ban đầu đă tôn kính nữ thần Maria Mađalêna. Trong khi Giáo Hội luôn bôi lọ nàng là cô điếm, và phe phái của Phêrô luôn t́m cách khử trừ nàng. Về phương diện xă hội, lư giải này mâu thuẫn v́ nếu các tín hữu ban đầu đă thờ nàng là nữ thần, tại sao họ không tỏ lộ và công khai hoá niềm tin của ḿnh? Tại sao cứ ái ngại các môn đệ của Chúa Giêsu Chịu Đóng Đinh Và sống Lại đang khi họ có thể tôn thờ Maria Mađalêna nếu thực sự họ muốn, v́ chẳng ai lên tiếng đả kích họ trên b́nh diện xă hội, văn hoá hay chính trị. Và chẳng ai, chẳng thế lực nào bắt bớ, bỏ tù hay hành h́nh họ. Trong khi những Kitô hữu tin theo Chúa Giêsu chịu đóng đinh và sống lại, từ người đứng đầu tới người tiếp bước luôn bị người ta bách hại, nhưng vẫn sống chết tin theo và tôn thờ Người. Nếu Dan Brown biết tới con số các tín hữu tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu, hẳn anh chẳng bất công, vô lư với những luận điệu ‘ngậm máu phun người ấy’. Nói cho cùng v́ có sẵn đó ‘nữ thần’ Maria Mađalêna trong bài bói toán của Margaret Starbird (Tác giả của The Templar Revelation; The Sacred Feminine; Maria Mađalêna, The Beloved; The Goddess in the Gospels, The Woman With The Alabaster Jar), trong “tài liệu lịch sử” bệnh hoạn của gă Plantard (Tác giả của Holy Blood, Holy Grail) nên mới có được ‘nữ thần’ Maria Mađalêna trong hư cấu của Mật Mă Da Vinci.

 

II. NỮ THÁNH MARIA MAĐLÊNA TRONG TIN MỪNG

 

 VÀ GIỮA GIÁO HỘI ĐÔNG PHƯƠNG VÀ TÂY PHƯƠNG

 

Rơ ràng Maria Mađalêna là nhận vật lịch sử. Nàng được Tin Mừng nhắc tên và cùng với nhiều phụ nữ khác, nàng lănh nhận vai tṛ rất quan trọng trong cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Chúa Giêsu. Tin Mừng Luca kể: “Sau đó Đức Giêsu rảo qua các thành phố, làng mạc rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người có nhóm Mười Hai và mấy người phụ nữ đă được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Maria gọi là Maria Mađalêna. Người đă được giải thoát khỏi bảy quỷ, bà Gioanna, vợ ông Khuda quản lư của vua Hêrôđê, bà Suzana và nhiều bà khác”(Lc 8, 1-3). Các phụ nữ này từ Galilêa được chọn để đi theo giúp đỡ Chúa Giêsu, chẳng hạn lo bữa ăn, lo tiền bạc. Ở cuối Tin Mừng này Maria Mađalêna được ghi nhận là nhân chứng cuộc Tử Nạn và an táng Chúa. Cũng chính nàng đă tới mồ thánh vào buổi sáng ngày phục sinh để xức xác Chúa. Tuy nhiên các Tin Mừng ghi nhận có nhiều bà Maria. Độc giả có thể lẫn lộn các bà Maria khác hoặc có thể kết hợp bà Maria được kể chỗ này với một Maria chỗ khác hay với một phụ nữ khác nữa được kể ở đâu đó.

 

Chẳng hạn có hai câu truyện khác nhau về những phụ nữ xức dầu thơm trên chân Chúa Giêsu và lấy tóc lau. Trong Lc 7, 36-50, Chúa ngồi đối diện với “một phụ nữ là người tội lỗi”, người đă khóc lóc sám hối xức dầu và lau chân Chúa, rồi lấy tóc mà lau. Nàng xức dầu để ghi ơn ḷng tha thứ của Chúa. Trong Ga 12, 1-8, Chúa Giêsu đang trên đường tới Giêrusalem, Người ghé thăm nhà Lazarô (người đă chết, được Chúa cho sống lại) và các cô chị, Maria và Macta. Maria xức dầu thơm trên chân Chúa và lấy tóc lau. Hành động này được coi như một tiền dung cho cuộc xức xác Chúa trong ngày an táng vài ngày sau đó.

 

C̣n bà Maria ở làng Bêtania, v́ bà xức dầu thơm cho Chúa Giêsu trước khi vào Giêrusalem, một vài truyền thống đă nối kết bà với một phụ nữ xức dầu cho Chúa trong Luca 7 và với phụ nữ có tên Maria Mađalêna trong Luca 8, cả ba phụ nữ được kết hợp vào một.

 

Vào cuối thế kỷ thứ hai, đầu thế kỷ ba ở Rôma, Thánh Hippôlitô đă diễn tả Maria Mađalêna như một Eva mới mà đức tin của bà đă đứng vững trước tội lỗi của Eva trong vườn Diệu Quang (h́nh ảnh này thường được áp dụng cho Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu). Ngài c̣n gọi Maria Mađalêna là “người tông đồ giữa các tông đồ”. Thánh Ambrôsiô và Augustinô, cả hai đă viết trễ hơn khoảng một thế kỷ, cũng nói về Maria Mađalêna như Eva mới. Như thế, những ǵ Dan Brown suy đoán về chuyện đời của Maria đều sai lạc. Với Giáo Hội Tây Phương, ngay từ thời Trung Cổ tới ngày cải cách lịch phụng vụ năm 1969 đă mừng lễ thánh Maria Mađalêna vào ngày 20 tháng 7 để kính nhớ cả ba nữ thánh từ mỗi câu chuyện Tin Mừng đó. Riêng Giáo Hội Chính Thống Đông Phương không nối kết ba vị thánh Maria này nhưng luôn phân biệt khuôn mặt mỗi nữ thánh. Giáo Hội Chính Thống rất tôn kính thánh nữ Maria Mađalêna và gọi người là ‘phụ nữ mang b́nh dầu thơm’ và người ‘tông đồ’. Như thế, khi Dan Brown nhắc đi nhắc lại truyền thống Kitô giáo đă đẩy Maria Mađalêna ra ngoài lề, coi nàng như quỷ ma, tô vẽ nàng ra một cô gái lăng loàng, một cô điếm, mong giảm bớt tầm quan trọng của người phụ nữ này là vô lư, vô bằng. Có thể nói Kitô giáo cả bên Đông, bên Tây đều tôn trọng Maria Mađalêna như một nữ thánh.

 

III. VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN TRONG GIÁO HỘI  VÀ TÀI LIỆU CỦA PHÁI NGỘ ĐẠO CUỐI THẾ KỶ THỨ HAI

 

Thực tế các sách Tân Ước đă ra đời trước năm 70, c̣n các Tin Mừng Ngộ Đạo đào được tại Nag Hammadi sớm nhất cũng khoảng năm 150 hay trễ hơn, vào thời điểm chủ thuyết Ngộ Đạo đă phát triển thành hệ thống. Niên biểu này đă được chấp nhận với Tin Mừng Philipphê, Tin Mừng đă cho Đức Giêsu và Maria Mađalêna hôn môi nhau. Riêng Tin Mừng Maria lại công bố vai tṛ lănh đạo của Maria Mađalêna. Mật Mă Da Vinci đă vẽ ra huyền thoại Chén Thánh một phần được cảm hứng từ hai Tin Mừng này. Tuy nhiên Dan Brown lại mập mờ đánh lận niên biểu của các Tin Mừng Ngộ Đạo lên trước Các sách Tin Mừng Chính Lục.

 

Ở chương cuối, Mật Mă Da Vinci lại thêm tài liệu Ngộ Đạo Marcion. Các sử gia gọi Marcion là một Proto-Gnostic (tiền Ngộ Đạo). Tân Ước đă cảnh giac “những ông thày giả hiệu” đang tới, cũng là đề cập chung về loại tài liệu Ngộ Đạo. Khi viết về cuộc quang lâm, Thánh Phêrô khẳng định, “không phải chúng tôi dựa theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo nhưng v́ chúng tôi thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người (2Ph 1, 16). “Chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo” hẳn ám chỉ những tài liệu Ngộ Đạo.

 

Vào tháng 12, 1945, gần thành phố Ai cập, Nag Hammadi một người nhà quê bắt gặp một số những cuộn da văn bản. Những bản văn này có niên biểu thế kỷ thứ tư, gồm những bài thơ, chuyện thần thoại, thần bí và những văn bản khác được các học giả gọi là “tin mừng bí ẩn”. Những tin mừng bí ẩn gồm: Tin Mừng Tôma, Tin Mừng Philipphê, Tin Mừng Chân Lư, Tin Mừng cho dân Ai Cập, Khải Huyền của Thánh Phêrô, Khải Huyền của Thánh Phaolô, Thư Thánh Phêrô gửi Thánh Philipphê, Tia chớp - Trí Tuệ Tuyệt Hảo, Chứng Từ Của Chân Lư. Chủ thuyết Ngộ Đạo là chủ trương t́m hiểu biết Thiên Chúa... linh hồn và vũ trụ bằng cảm nhận thực nghiệm trực tiếp. Ngộ Đạo thuyết lớn lên trong những thế kỷ đầu, đón nhận những dạng thức đức tin Kitô giáo nhưng phủ nhận phần lớn đức tin Kitô Giáo (Duncan Greenlees, The Gospels of the Gnostics). Nói chung Marcion cũng như 51 bản văn Ngộ Đạo khác được đào thấy ở Nag Hammandi đều phủ nhận cuộc sáng tạo của Thiên Chúa. Tất cả đều coi thường các loài thụ tạo, đặc biệt rẻ rúng sự phân định phái tính, hôn nhân và t́nh mẫu tử. Tài liệu Ngộ Đạo từ chối mọi thứ luật lệ, không tin có tội lỗi và nhận định con rắn ở vườn Diệu Quang đă lên lời khôn ngoan. Các tài liệu không tin Chúa Giêsu giải thoát chúng ta khỏi tội nhưng tin Chúa giải thoát loài người khỏi u mê trí tuệ và mang lại ơn giác ngộ.

 

Có thể xác định, những tài liệu Ngộ Đạo và Thánh Kinh chính lục không thể phát triển song song nhau như Mật Mă Da Vinci chủ trương. Sứ điệp thứ nhất của các Kitô hữu nhận từ Chúa Giêsu và các Tông Đồ được đón nhận rộng răi và được soạn thảo do thế hệ đầu tiên. Sau đó xuất hiện những sứ điệp chống đối từ phía những người từ bỏ đức tin hoặc những người bất măn với Giáo Hội. Đó là những tài liệu Ngộ Đạo. Có thể nói Mật Mă Da Vinci đă vét cạn những điểm ngang trái từ các Tin Mừng Ngộ đạo như Teabing dựa vào Tin Mừng Philipphê để phóng lời kết án Giáo Hội đă và đang dập vùi thân phận phụ nữ. Ông sử gia qủa quyết: “Như tôi đă nói trước đây, cuộc hôn nhân giữa Đức Giêsu và Maria Mađalêna là một phần ghi nhận của lịch sử”. Hơn nữa, Đức Giêsu, với tư cách là một người đàn ông có vợ có ư nghĩa hơn vô vàn chuẩn mực của Thánh Kinh về Đức Giêsu, một người độc thân (245). Ở đây người ta trưng dẫn Tin Mừng Philipphê: “...Và người bạn đường của Chúa Cứu Thế là Maria Mađalêna. Đức Kitô đă yêu nàng hơn các môn đệ khác, Người thường hôn nàng và hay hôn môi nàng. Các môn đệ khác thấy bị xúc phạm và đă bày tỏ thái độ bất b́nh. Anh em nói với Thày, Tại sao Thày yêu cô này hơn tất cả chúng tôi” (248). Và theo Teabing hai người đă có con với nhau”. Dan Brown c̣n tung ra những con số tưởng tượng mong minh hoạ: Giáo Hội phớt lờ nữ quyền và nh́n phụ nữ như quỉ ma. Langdon mô tả cuộc kỳ thị tàn nhẫn: “Trong 300 năm săn lùng ‘phù thuỷ’, Giáo Hội đă thiêu sống trên dàn thiêu 5 triệu phụ nữ.

 

“Hội Kín Sion tin rằng, Constantinô và những người đàn ông kế tục đă thành công biến cải thế giới lương dân mẫu hệ thành Kitô giáo phụ hệ do tiến hành một chiến dịch bôi lọ người nữ thánh thiêng thành quỉ ma và vĩnh viễn xoá bỏ các nữ thần khỏi tín ngưỡng hiện đại”...

 

Cuối cùng nhân danh các Tin Mừng Ngộ Đạo, Dan Brown giới thiệu Đức Giêsu nổi bật là nhà hoạt động đầu tiên cho nữ quyền: Teabing nói: “Theo những bản văn Tin Mừng chưa bị sửa đổi, không phải Phêrô được Đức Giêsu chỉ thị lập Giáo Hội Kitô giáo nhưng là Maria Mađalêna”. Đức Giêsu là nhà hoạt động đầu tiên cho nữ quyền. Ngài tính, tương lai Giáo Hội sẽ được đặt vào tay Maria Madalêna”.

 

Nhưng Mật Mă Da Vinci đă bị ‘gậy ông đập lưng ông’ trong vấn đề nữ quyền: Mật Mă Da Vinci muốn chúng ta tin, Tin Mừng Ngộ Đạo ủng hộ phụ nữ nơi đâu, Tân Ước hạ thấp phụ nữ nhưng đoạn văn này của Tin Mừng Ngộ Đạo Tôma đă tố cáo Mật Mă Da Vinci ăn gian bằng chứng. “Simon Phêrô nói với họ: Hăy để cho Maria (có lẽ là Maria Mađalêna) rời bỏ chúng tôi, v́ phụ nữ không đáng sống”. Chúa Giêsu nói, chính ta sẽ dẫn dắt nàng để biến nàng thành đàn ông, như thế nàng cũng có thể trở thành loài có thần sống, giống với đàn ông các anh. Những phụ nữ biến ḿnh thành đàn ông sẽ được vào Nước Trời” (‘Tin Mừng Toma’, lời 14).

 

IV. VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN TRONG THÁNH KINH

 

Ở Đông Phương thời trước người phụ nữ mang thân phận thấp kém và rẻ rúng, ‘nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô’ nên phụ nữ ở nhà hay ngoài xă hội chẳng bao giờ dám ngẩng mặt nh́n trời, nh́n người v́ lúc nào cũng ṭng, cũng ‘phụ’ cho ai đó, ‘tại gia ṭng phụ, xuất giá ṭng phu, phu tử ṭng tử’. Ở Tây phương, trước khi phụ nữ là ‘Lady first’, phụ nữ đă bị coi là “con người dở dang” (homme manqué, theo lối nh́n của Aristote).

 

A. Trong Cựu Ước

 

Ở Do Thái, người phụ nữ được gọi là ’issâh, con người nữ phái. Nàng được Thiên Chúa rút ra từ người đàn ông đầu tiên và được tạo dựng. Nghĩa là nữ phái mang bản chất tương hợp với nam phái nhưng có phẩm cách độc đáo (St 2, 21- 24). Đúng là lối nh́n Việt Nam rất ứng với sách Sáng Thế: “Ḿnh với ta tuy hai mà một, ta với ḿnh tuy một mà hai’ hay nói kiểu tượng h́nh của Thánh Phaolô: ‘Người đàn ông sẽ ĺa cha mẹ và gắn bó với vợ ḿnh và cả hai sẽ thành một xương, một thịt’ (Eph 5, 31). Thời Cựu Ước, danh hiệu ‘Thiếu Nữ Sion’ là biểu tượng cho Dân Chúa Chọn. Người phụ nữ thuở ấy cũng đă nhận những tước hiệu cao quư trong hai tŕnh thuật về tạo dựng của sách Sáng Thế và trong Tân Ước, tŕnh thuật của Phaolô, 1 Cor 11,7 đúng là tiếng vọng lại của hai tŕnh thuật trên. Theo đó, cùng là h́nh ảnh của Thiên Chúa, nữ phái b́nh đẳng với nam phái về bản chất và phẩm cách nhưng lại thấp hơn nam phái về vai tṛ. Nàng là “người trợ giúp xứng hợp cho chàng” (St 2, 18), c̣n chàng là người “điều binh khiển tướng trên đời nàng” (St 3, 16).

 

Giữa xă hội

 

Nhiều phụ nữ đă đảm trách những sứ mạng của toàn dân như Nữ tiên tri Hulda làm tham vấn cho các cận thần của vua (2V 22, 14tt). Đêbora từng là tiên tri và quan án trong dân Israel (Tl 4, 4tt; 5). Juđit và Este được dân chúng trân trọng như hai nữ anh hùng dân tộc đă cứu thoát dân. Sách Châm Ngôn 31 đă ca tụng những phụ nữ cao trọng, tán thưởng những người mẹ, người vợ đảm đang, rộng lượng mang lại hạnh phúc tràn đầy cho chồng con. Trong Cựu Ước thỉnh thoảng cũng xuất hiện những tŕnh thuật tŕnh bày về t́nh thân trong cộng đoàn gia đ́nh, chứng tỏ người phụ nữ được chồng yêu thương, lắng nghe và ứng xử b́nh đẳng (1S, 4- 8. 22; 2V 4, 8- 24). Người chồng khen nàng, là nội tướng đảm đang và những người khôn ngoan chúc mừng nàng (Kn 31, 10- 31; Hc 26, 1- 4. 3- 18).

 

Về pháp lư

 

Theo luật pháp thân phận phụ nữ thấp hèn và lệ thuộc. Nàng gọi chồng là ‘Thày’ hay ‘Chủ’ (St, 12; Tl 19, 26; Am 4, 1) và c̣n bị coi như một trong những món sở hữu của chồng (Xh 20, 17; Đnl 5, 21). Người chồng có thể la mắng vợ, c̣n nàng chẳng được thừa hưởng gia sản ǵ của chồng, và cũng chẳng được di sản từ cha trừ khi người đàn ông hợp pháp nhận di sản vắng mặt (Ds 27, 8). Quyền hợp pháp của người vợ góa sẽ tùy người cha hay chồng thừa nhận hay phủ nhận (Ds 30, 4- 17). Theo Luật Maisen phụ nữ gần như một nô lệ và có thể bị chồng đuổi đi. Phụ nữ phải giữ nghi thức thanh tẩy đặc biệt (Lv 15, 19, 25; 12, 2- 3). Trong trường hợp nghi ngờ, ‘nước của ḷng ghen tương’ sẽ chống lại nàng. Sự thất tiết bị phạt tử h́nh. Thánh Phaolô từng cấm phụ nữ lên tiếng giữa cộng đoàn Phụng vụ (1Cor 14, 33b-36).

 

Nơi tôn giáo

 

Ở Do Thái cổ thời, cũng như nơi những vùng khác ở Cận Đông, trong lănh vực tôn giáo vai tṛ người phụ nữ tuy khá giới hạn nhưng nhiều phụ nữ đă đảm nhận vai tṛ nữ tiên tri như Miryam (Xh 15, 20tt; Ds 12, 1-2; Mi 6,4), Đêbora (Tl 4, 4), Hulda (2 V 22, 14tt) Noađia (Ne 6,14) và cũng có những tiên tri vô danh. Ở một số tôn giáo Cận Đông, nhiều phụ nữ c̣n phải nhận làm điếm thần, một nhiệm vụ tôn giáo nên Đệ Nhị Luật (23, 18) có luật cấm các cô gái, không được làm điếm thần (nơi đền thờ các vị thần ngoại lai).

 

B. Trong Tân Ước

 

Tới thời Tân Ước, vẫn c̣n hiện diện vị nữ tiên tri Anna nhà Phanuel nơi đền thờ trong lễ Dâng Con của Thánh Giuse và Đức Mẹ (Lc 2, 36). Vị nữ tiên tri này được soi sáng để nhận ra Chúa Cứu Thế ấu thơ.

 

Vào Tân Ước, người phụ nữ được trân trọng nh́n nhận phẩm cách, được cộng tác vào công tŕnh loan Tin Mừng và được trao phó những sứ vụ cao cả. Ga 4, 17-26 kể về một phụ nữ b́nh thường như mọi phụ nữ khác, nàng c̣n tai tiếng nữa, v́ đă năm lần ly dị hiện đang chung sống với một người bạn trai. Nàng c̣n là một người Samaritanô khác đạo. Chúa đă vượt qua cả nề nếp phong tục Do Thái hồi đó về ranh giới sắc tộc và đạo giáo để chia sẻ với nàng lời công bố đầu tiên: Người là Đấng Messia. Đàng khác Trong Lc 8, 1-3, ngược với phong tục thời ấy, Chúa Giêsu đă đón nhận một nhóm các phụ nữ đi theo Chúa và các môn đệ để phục vụ và trợ giúp về tiền bạc. Tân Ươc đă mạnh mẽ khẳng định phẩm giá và ơn gọi phụ nữ qua sự kiện một phụ nữ đi loan báo tin vui vô cùng lớn lao, tin vui Chúa Phục Sinh cho cả Giáo Hội, sự kiện được cả ba Tin Mừng Nhất Lăm tường thuật (Mt 28, 1; Mc 16, 1; Lc 24, 10). Với Thánh Phaolô, vị Tông Đồ từng nhấn mạnh đặc tính “phu xướng phụ tùy” (1 Cor 11, 7- 12): “Người nam không được che đầu v́ là h́nh ảnh và vinh quang của Thiên Chúa; c̣n người nữ là vinh quang của người nam”. Chính Phaolô đă mạnh mẽ tuyên bố, “Không c̣n chuyện phân biệt Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ, nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô (Gal. 3, 28). Thánh Phaolô c̣n nhắn nhủ những người chồng, “Hỡi những người chồng, hăy yêu thương vợ như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến ḿnh v́ Hội Thánh” (Ep. 5, 25).

 

Cuối cùng chúng ta không thể quên Mẹ Maria, người Phụ Nữ được chọn để đối đầu với con rắn tại Vườn Diệu Quang, “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người Phụ Nữ, giữa ḍng giống mi và ḍng giống người Phụ Nữ; ḍng giống ấy sẽ đánh vào đầu mi và ŕnh mi sẽ cắn gót chân người”(St 3, 15). Người Phụ Nữ sáng chói này chính là Mẹ Maria, một người con trinh trong của Thiên Chúa. Chính Mẹ đă được Thiên Chúa mời gọi để thay mặt cho cả nhân loại đón nhận Chúa Cứu Thế vào cung ḷng ḿnh và trao Chúa Giêsu cho chúng ta.

 

V. NỮ QUYỀN TRONG GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI

 

Nữ Quyền là vấn đề tương đối mới. Trước Vatican II, Đức Gioan XXIII đă thấp thoáng đề cập trong thông điệp ‘Hoà B́nh Trên Trái Đất’ Riêng Vatican II khi tŕnh bày những vấn đề lớn về phẩm cách, nhân vị của con người, tương giao xă hội trong Hiến chế Mục Vụ Giáo Hội Trong Thế giới Ngày nay và Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân, Công Đồng đă ‘cho quá giang’ vấn đề nữ quyền. Nhưng vấn đề c̣n ở giai đoạn chẩn đoán căn bệnh thời đại chưa tập trung thành một hướng dẫn hệ thống. Ở đây, với đôi ḍng lược ghi giáo huấn của Giáo Hội về nữ quyền chúng ta đi t́m những điểm tựa từ Vatican II và đặc biệt chú ư Tông huấn ‘Phẩm Giá Phụ Nữ’ do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành 18 năm trước đây.

 

A. Vatican II

 

Hiến chế Mục Vụ Giáo Hội Trong Thế giới Ngày Nay nhắc nhớ: Thiên Chúa muốn mọi người làm thành một gia đ́nh và đối xử với nhau bằng t́nh huynh đệ (GS số 8). Nhưng trước một xă hội đang có những mâu thuẫn gia đ́nh do những tương giao xă hội mới giữa nam và nữ, Vatican II nhận định, “Ở đâu nữ giới chưa được b́nh quyền với nam giới, họ đều đứng lên đ̣i hỏi cho ḿnh được b́nh đẳng trước pháp lư và thực tế” (GS số 9). Tiếp theo, ở số 60, Hiến chế Mục Vụ Giáo Hội Trong Thế giới Ngày Nay khẳng định không được phân biệt nam nữ, mọi người đều được hưởng nhận văn hoá, điều phù hợp với phẩm giá con người. Trong sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân, Công Đồng lạc quan nhận ra, nữ giới ngày càng đóng góp xây dựng các lănh vực xă hội, nên cần giúp họ tham gia công tác tông đồ giáo dân (LG số 9).

 

B. Tông Huấn ‘Phẩm Giá Phụ Nữ’

 

Đức Maria, người mẫu của phụ nữ

 

Khởi đi từ biến cố Truyền Tin, Tông Huấn thấy Đức Mẹ hiện diện ngay tại trung tâm của biến cố cứu độ qua cuộc Truyền Tin tại Nazaret và Tông Huấn nh́n Mẹ Maria như người mẫu của các phụ nữ. Với lời “Xin Vâng” Đức Mẹ đă cưu mang người con và người con này là Con Thiên Chúa, đồng bản thể với Đức Chúa Cha và Người mẫu của phụ nữ cũng là Mẹ thật của Thiên Chúa (4). Sau Vatican II Đức Phaolô VI trong lễ tuyên phong tiến sĩ cho hai nữ thánh Terêsa Avila và Catarina Sienna đă nhấn mạnh vấn đề nữ quyền như một ‘dấu chỉ thời đại’. Ngài cũng thành lập trong Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1974 một uỷ ban nghiên cứu về phẩm giá và trách nhiệm phụ nữ.

 

Phụ nữ là h́nh ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa

 

Thiên Chúa tạo dựng con người có nam, có nữ. Họ được dựng theo h́nh ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa (St 1,27). V́ là h́nh ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa nên con người là một ngôi vị, người nam và người nữ đều là ngôi vị như nhau. Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa muốn, “Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương hợp với nó” (St 1, 18-25). Nói khác, nam nữ không chỉ sống bên nhau, sống chung với nhau mà c̣n sống cho nhau, sống hỗ tương nhau, sống liên vị. Họ, cả nam và nữ đều là tạo vật duy nhất ở trần thế được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ. Đồng thời tạo vật ‘duy nhất đó’ chỉ có thể gặp lại chính bản thân ḿnh nhờ thành thực cống hiến chính ḿnh cho nhau (10).

 

Phụ nữ được tạo dựng từ “xương sườn của người nam”(St 2, 23)

 

Người nữ được tạo dựng từ “xương sườn của người nam”. Nghĩa là theo ngôn ngữ Kinh Thánh căn tính của người nữ thiết yếu tương quan với người nam (Ish – Isha): Nàng sẽ được gọi là đàn bà (Isha) v́ đă được rút từ đàn ông (Ish) (St 2, 23).

 

Phụ Nữ và Nữ quyền

 

Thời đại này vấn đề ‘nữ quyền’ đă có những ư nghĩa mới mẻ trong bối cảnh rộng răi về các quyền của con người. Soi sáng cho vấn đề này là luôn công bố và nhắc lại bằng nhiều h́nh thức, sứ điệp Kinh Thánh và Tin Mừng để bảo tồn chân lư và sự ‘hiệp nhất giữa hai người’. Đó là chân lư về phẩm giá và ơn gọi phát xuất từ sự khác biệt và tính chất ngôi vị riêng biệt của người nam và người nữ. V́ thế khi phụ nữ đ̣i nữ quyền chính đáng họ không thể bị ‘nam hoá’, dù với bất cứ lư do ǵ. Người nữ không nên nhân danh cuộc giải thoát khỏi, ‘sự thống trị của người nam’ (St 3, 16) để dành lấy những đặc tính của người nam, gây nguy hại cho nữ tính của ḿnh... Trong tŕnh thuật của Kinh Thánh, tiếng reo ḥ của Ađam khi nh́n thấy người phụ nữ vừa được sáng tạo là tiếng reo ḥ thán phục và say đắm, tiếng reo mừng được vang lên suốt lịch sử của con người trên trái đất ( số 11).

 

Những tài năng cá nhân của nữ phái chắc chắn không kém những tài năng của phái nam, tuy mỗi bên mỗi khác. V́ thế người nữ cũng như người nam phải nhận ra sự triển nở cá vị, nhận ra phẩm giá và ơn gọi của ḿnh dựa trên những tài năng riêng, tuỳ theo nữ tính phong phú mà họ đă nhận khi được sáng tạo, và thừa hưởng như một diễn tả về việc ‘là h́nh ảnh Chúa và giống Thiên Chúa’.

 

Đức Giêsu nói chuyện với phụ nữ

 

Trên bước đường sứ vụ của Đức Giêsu, đă xuất hiện một số khuôn mặt phụ nữ, và thái độ của Người đối với từng người, đă làm nổi bật một ‘nếp sống mới’ thấm nhuần tinh thần Tin Mừng. Tất cả mọi người, kể cả những ai có thái độ phê phán sứ điệp của Đức Kitô, đều nh́n nhận, trước mắt những người đồng thời, Đức Kitô đă là người bênh vực phẩm giá đích thực của người phụ nữ, cũng như ơn gọi gắn liền với phẩm giá đó. Thái độ đó đôi khi gây thán phục và kinh ngạc nhưng cũng thường gây vấp phạm: “Họ ngạc nhiên v́ thấy người nói chuyện với một phụ nữ” (Ga 4, 27), v́ đó là một thái độ xa lạ với người đương thời. Cả đến môn đệ của Đức Kitô cũng ngạc nhiên, khi thấy người phụ nữ vào nhà và xức dầu thơm trên chân Đức Giêsu. Người Biệt Phái chủ nhà nghĩ bụng, “Nếu quả thật ông này là tiên tri, th́ hẳn biết người đàn bà đang đụng vào ḿnh là ai, là một người tội lỗi” (Lc 7, 39). Những thính giả tự măn lại càng cảm thấy bực tức và có khi c̣n tỏ ra thái độ ‘phẫn nộ thánh thiện’ khi nghe Đức Kitô nói, “Những người thu thuế, những cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21, 31). Những lời nói và cách ứng xử như thế chứng tỏ Đức Giêsu hoàn toàn thấu hiểu những bí mật của mầu nhiệm Nước Trời (số 12).

 

Đức Giêsu không kỳ thị nữ phái

 

Toàn bộ giáo huấn của sứ điệp Đức Giêsu, cũng như cách cư xử của Người không có ǵ tỏ ra kỳ thị nữ giới. Ngược lại lời nói và hành động của Người luôn tỏ ra kính trọng phụ nữ. Người phụ nữ c̣ng lưng được gọi là ‘con cháu Abraham’ (Lc 13, 16), trong khi cả Thánh Kinh chỉ dành danh xưng đó cho phái nam. Trên con đường thập giá hướng về Golgotha, Đức Giêsu ngỏ lời với các phụ nữ: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm ǵ” (Lc 23, 28). Phong cách Đức Giêsu nói về và nói với cũng như cách cư xử với họ rơ ràng là mới mẻ đối với phong tục tập quán thời đó. Thái độ này càng hiển nhiên hơn với nhưng phụ nữ bị dư luận khinh miệt, coi như những người tội lỗi, người mắc tội công khai và người ngoại t́nh. Chẳng hạn Đức Giêsu nói với người phụ nữ Samaria, “Đúng là chị đă năm đời chồng và người đang sống với chị không phải là chồng chị”. Khi nhận thấy Đức Giêsu biết rơ những bí mật của đời ḿnh, người phụ nữ đă thấy ra, Người là Đấng Thiên Sai và chạy ngay về thông báo cho cả làng biết. Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ Samaria là một trong những mẫu đối thoại đẹp nhất Tin Mừng (x Ga 4, 7-27). Một phụ nữ khác rất tai tiếng, dù bị dư luận rẻ rúng, nàng đă vào nhà một ông Biệt Phái xức dầu thơm lên chân Chúa Giêsu. Thấy ông chủ nhà tỏ vẻ khó chịu, Chúa đă nói: “chị này nhiều tội nhưng chị đă được tha v́ chị đă yêu mến nhiều” (x Lc 7, 37-47). Có thể nói, qua thái độ của Chúa Giêsu chúng ta nhận ra, phụ nữ cũng là tạo vật duy nhất trên mặt đất, Thiên Chúa đă muốn sáng tạo họ v́ chính họ (số 13).

 

C. Thông Điệp Giáo Hội Sống Nhờ Thánh Thể (EdE)

 

Trong Thông điệp Giáo Hội Sống Nhờ Thánh Thể (EdE) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II lại thấy Mẹ Maria là Người Nữ Thánh Thể: “Khi Đức Maria hát vang: ‘Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa và ḷng trí tôi nhảy mừng trong Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi’, Chúa Giêsu đang trong cung ḷng của Mẹ, Mẹ ngợi khen Chúa Cha thay cho Chúa Giêsu, nhưng Mẹ cũng ngợi khen Chúa Cha trong Chúa Giêsu và cùng với Chúa Giêsu. Đó chính là thái độ Thánh Thể đích thực” (EdE. 58).

 

VI. VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN QUA VÀI NHẬN ĐỊNH THỰC TẾ

 

A. Steven Goldberg

 

Steven Goldberg, Trưởng khoa xă hội học tại Đại Học Tiểu Bang New York đă viết: “Tôi xác quyết, phụ hệ là phổ quát và chưa bao giờ có mẫu hệ. Trong bất cứ xă hội nào, quyền bính và quyền lănh đạo trong gia đ́nh đều liên kết với người đàn ông... Chúng tôi đă nghiên cứu từng trăm xă hội ở thế kỷ này, không có ngoại lệ, tất cả đều theo phụ hệ. Chúng tôi không có lư do tin rằng đă từng hiện hữu những xă hội do phụ nữ điều khiển” [Theo Giáo sư Nghiêm Thẩm (Đại Học Văn Khoa Sài G̣n trước năm 1975), tất cả những chế độ mẫu hệ của những sắc dân thiểu số tại vùng cao nguyên Việt Nam đều là “mẫu hệ giả”. Thực sự quyền bính trong gia đ́nh không hẳn thuộc người vợ nhưng thực tế thuộc người anh hay em vợ].

 

B. Nhờ nền văn minh Kitô Giáo nữ quyền được nh́n nhận

 

 Thực tế trong thế giới lương dân cổ xưa phụ nữ đă không được nh́n nhận và ứng xử như Langdon lầm tưởng. Thực tế, trong tầm ảnh hưởng, Kitô giáo đă làm chuyển biến lớn lao về phẩm cách và ơn gọi phụ nữ. Trước khi Chúa Kitô đến, nơi thế giới lương dân, cuộc đời phụ nữ đă được nh́n với ánh nh́n rẻ rúng. Tại Hy Lạp, Ấn độ và Trung Hoa phụ nữ không có chút quyền hành và bị coi như một món sở hữu của người chồng. Các triết gia thuở ấy cũng chẳng coi trọng phụ nữ hơn những người dân ngoài Kitô giáo khác. Aristote đă coi đẳng cấp phụ nữ nằm giữa đàn ông và giới nô lệ. Platon nói, người đàn ông nào sống cuộc sống nhút nhát, anh ta nên tái đầu thai làm phụ nữ.

 

Tại Hy lạp cổ, người vợ không được phép rời nhà nếu không có người đi kèm. Nàng không được ăn uống, giao dịch với khách tại nhà.

 

Một phụ nữ Athen có vị thế xă hội không hơn một nô lệ. Phụ nữ không được học hành và không được phát ngôn nơi công cộng. Lặng thinh được coi là duyên dáng của phụ nữ, kể cả ở nhà. Kitô giáo đến đă chuyển biến triệt để thân phận phụ nữ. Chính các học giả lương dân Rôma cổ thời cũng coi đó là khúc quanh cho quyền tự do và phẩm cách phụ nữ. Xưa cũng như nay, ở đâu Kitô giáo vào cuộc là phụ nữ được nâng cao. Trong giới lương dân Trung Hoa, nạn phá thai để chọn phái tính rất phổ biến hồi 1880 khi các Thừa Sai Kitô giáo chưa tới. Các trẻ em nữ bị coi như ‘của nợ’. Trong hai thế kỷ vừa qua do ảnh hưởng của Kitô giáo, thái độ ứng xử với phụ nữ toàn thế giới đă thăng tiến rơ rệt. Kitô giáo đă giúp phụ nữ Trung Hoa bỏ lệ bó chân (cho mảnh mai, hấp dẫn). Nhiều trường hợp gây biến chứng rất nguy hiểm, và có thể tử vong.

 

Tại An Độ, tục lệ suttee của người Hindu: khi chồng chết vợ cũng bị chôn táng theo chồng, nhờ Kitô giáo đă chấm dứt. Những “Bà Goá Trẻ Con” trong nề nếp văn hoá lương dân Hindu thờ nữ thần. Các cô gái này được dâng làm điếm thánh trong đền thờ. Amy Carmichael, một tín hữu Kitô giáo đă đấu tranh để chấm dứt hủ tục này và giải cứu được các cô.

 

VI. ĐÔI D̉NG KẾT

 

Ai đó có thể tuỳ tiện đem một bông hồng tươi thắm nhúng chàm và hí hửng chỉ cho bạn bè thấy một ‘bông hồng đen’ không là chuyện mới mẻ. Trước Mật Mă Da Vinci từng có The Last Temptation với nhân vật Giêsu c̣n đen đủi, hắc ám hơn nhiều. Và xung quanh The Last Temptation cũng không thiếu những nhân vật Giêsu trong Giao Điểm, trong Tây Dương Giatô Bí Lục với khuôn mặt c̣n gớm ghiếc nữa. Chuyện nhúng chàm Chúa Giêsu và bôi lọ Giáo Hội là chuyện người ta, những người không chia sẻ Đức tin với chúng ta. Nhưng không phải v́ Chúa bị nhúng chàm mà Chúa thành chàm và không phải v́ bị bôi lọ mà Giáo Hội ra lọ lem. Cũng chẳng v́ Dan Brown giấu mặt mà anh không sợ mất mặt. Đáng tiếc là anh chẳng bao giờ biết biển nên chê biển hẹp, chẳng bao giờ anh tin nên chẳng xót xa khi ḷng nguội lạnh. Đọc anh, xem anh chúng tôi cứ tiếc có lần nào anh t́m ra đứng trước biển xem người muối đi t́m mẹ, nghe người muối ới ời mẹ. Một ngày nào đó trong đời anh, một buổi mai, buổi hôm nào đó trong đời anh.

 

Chẳng ai ngờ người muối là con ruột của biển khơi. Người muối suốt ngày gọi mẹ, t́m mẹ:

 

“Biển khơi ới ời, mẹ ở đâu mà con t́m hoài chẳng thấy? Mẹ ới ời, mẹ là ai sao con chẳng biết. Mẹ ới ời, mẹ cao hay thấp, bao la hay hẹp ḥi sao con lường chẳng nổi.

 

Biển khơi nghe con gọi sốt cả ruột không thôi dâng nước làm sóng, sóng vỗ miên man, như tiếng mẹ gọi t́m con. Rồi một ngày nắng đẹp, người muối chẳng ngờ ḿnh đứng ngay trước biển, và nghe rơ qua tiếng sóng vỗ giọng mẹ nhủ con:

 

“Người muối ơi, con của mẹ, muốn hiểu mẹ con phải bước tới. Bước tới nữa.

 

“Sao con vẫn chưa thấy mẹ?

 

“Con bước thêm nữa.

 

“Con chỉ gặp sóng và nước và đôi chân con bắt đầu bị biển ăn ṃn.

 

“Con bước tới nữa.

 

“Thân con bắt đầu bị nước hoà tan.

 

“Người muối con ơi, con muốn hiểu biển, con phải hoà tan trong ḷng biển mới hiểu mẹ mặn, mới thấy mẹ bao la!